
3.1. Lên xe
Rồi chuyện phải đến đã đến. Hôm đó là ngày 25 tháng 6 năm 1976, chúng tôi vừa ăn cơm chiều xong thì có lệnh tập họp, mang theo đồ đạc cá nhân ra sân. Khi chúng tôi đã sẵn sàng, bọn quản giáo xuống, bắt đầu mục khám xét đồ đạc. Trước khi mang đồ ra sân, tôi chạy vội vào nhà cầu, cột cái kéo hớt tóc lên cánh tay, phía gần nách; sau đó mặc áo lại và theo đồng đội ra sân. Tôi đã qua mặt bọn quản giáo, giấu được cái kéo và mang nó theo.
Công việc khám xét xong thì trời bắt đầu tối. Chúng tôi được chia ra từng nhóm 25 người. Tôi nghĩ ngay rằng tụi tôi sẽ được chở đi bằng xe Molotova, 25 người cho một xe, giống như ngày từ Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ về Long Giao. Bây giờ lại đoán mò; người thì bảo sẽ đi Katum (Phước Long); người thì bảo sẽ ra miền Trung v.v…
Chừng 9 giờ đêm, đoàn xe tới. Mỗi nhóm 25 người lên một xe. Khi mọi người đã ở trên xe, tài xế và vệ binh kéo bạt phủ kín. Không khí chỉ vào qua mấy lỗ nhỏ trên nóc xe; chúng tôi bắt đầu cảm thấy ngộp thở; trong lòng mong cho xe mau chạy để có gió thổi, đưa không khí vào xe nhiều hơn.
Chờ chừng hơn nửa tiếng, xe bắt đầu lăn bánh. Trời bên ngoài tối thui, xe lại bi che kín, chúng tôi chẳng biết đoàn xe đi hướng nào. Quá nửa đêm, xe từ từ ngừng lại; mui xe được vén lên; báo hiệu đã tới nơi. Nhìn ra ngoài thì thấy bến tầu Tân Cảng (còn gọi là New Port, trên sông Sài-Gòn), chúng tôi được lệnh xuống xe và sắp hàng, ngồi chờ. Cách chúng tôi chừng 200 mét (độ 700 ft) là con tầu biển mang tên Sông Hương, đang lừng lững trước mặt, như thể đang chờ để nuốt chúng tôi vào bụng của nó.
3.2. Xuống tầu
Trong đời tôi, chắc không thể quên được chuyến tầu có một không hai này. Dù đến nay đã 32 năm qua (1976 – 2008) mà như nó vẫn như mới xảy ra hôm nào đây thôi.
Chúng tôi chờ chừng hơn một giờ thì được lệnh lên tàu. Lên tầu bằng một cầu gỗ rất hẹp và đung đưa rất dễ sợ.
Đi trước tôi khoảng chừng mười người, có một anh (không rõ lý lịch), chẳng hiểu là anh ấy cố tình hay là vô ý, đã rớt xuống sông trong lúc anh đang ở giữa cầu. Một vài tiếng kêu nho nhỏ “Có người rớt xuống sông." Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn phải tiếp tục tiến về phía trước. Chẳng thấy có phản ứng gì về phía những người áp giải chúng tôi. Chúng tôi vào trong khoang tầu là chẳng còn biết gì thêm. Chắc hẳn anh đó đã thoát khỏi nợ trần ngay đêm hôm đó rồi!
Tầu Sông Hương là tầu chở hàng nhưng tôi không biết nó có bao nhiêu khoang. Có người nói rằng tầu Sông Hương chở được ba ngàn người, như vậy nó có thể có 6 khoang. Mỗi khoang rộng chừng 15m x 15m (tương đương với 2.500 SF). Chúng tôi cứ bị dồn hoài, dồn hoài cho đến khi không còn nhúc nhích được nữa mới ngưng. Tôi ước chừng mỗi người chỉ được chừng gần 5 SF, tức là khoảng chừng 500 người cho một khoang tầu (2500 SF / 5 SF = 500 người).
Chúng tôi chỉ có thể ngồi bó gối và dựa vào túi đeo lưng của mình. Không ai có thể duỗi chân thẳng ra được. Năm người chúng tôi ngồi cạnh nhau mới nghĩ ra một cách là gom tất cả đồ đạc của 5 người lại, xếp thành một hàng dọc chừng 5 FT, dùng để thay phiên nhau mà ngả lưng cho đỡ mệt. Bốn người còn lại thì ngồi tán gẫu cho quên đời, chờ đến phiên mình ngả lưng. Trong nhóm 5 người này, tôi còn nhớ được tên 4 người; đó là Thiếu Tá Đặng Ngọc Bách (khóa 7 Pháo binh), Nguyễn Trãi (khóa 22 Pháo binh), Nguyễn Xuân Thu (không rõ cấp bậc và binh chủng), và tôi - Nguyễn Văn Thái (khóa 14 Pháo binh).
Anh Bách là đàn anh của tôi; hai chúng tôi quen biết nhau từ trước. Tôi có một ít kỷ niệm với anh Bách trước khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tan hàng. Khi Sư Đoàn 25 Bộ Binh thành lập thêm một Tiểu đoàn Pháo binh 105 ly thứ ba, tức sẽ là Tiểu Đoàn 253 Pháo Binh. Anh Bách về làm Pháo Đội Trưởng Pháo đội Chỉ Huy. Tôi làm Sĩ Quan Truyền Tin và sau làm Quyền Sĩ Quan Hành Quân & Huấn Luyện của tiểu đoàn.
Đầu năm 1970, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có kế hoạch thành lập Pháo Binh Diện Địa. Anh Bách được chọn làm Chỉ Huy Trưởng PB/Tiểu Khu Long An. Anh Bách rủ tôi sang làm phó cho anh ấy vì hai người đã hiểu nhau thì làm việc dễ dàng hơn. Tôi đồng ý. Rồi một hôm, anh Bách chở tôi lên Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 (Biên Hòa) gặp Đại Tá Hồ Nhựt Quan, khi đó đang làm Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn 3, để xin ông cho tôi về làm phó cho anh Bách. Đại Tá Quan cho biết không có gì trở ngại. Thế là tôi bắt đầu công tác huấn luyện cho các quân nhân có lệnh thuyên chuyển về Pháo Binh Tiểu Khu Long An.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 253 PB lúc này đang ở Chi Khu Bến Lức, có nhiệm vụ làm đơn vị “Mẹ” cho Pháo Binh/Tiểu Khu Long An. Tôi vừa làm công việc của TĐ253PB, vừa chuẩn bị cho Pháo Binh/Tiểu Khu Long An xuất quân. Đến ngày lễ xuất quân của PB/TK Long An, có Đại Tá Quan tới chứng kiến. Khi vừa bước xuống xe, ông gọi anh Bách lại nói nhỏ gì đó trong lúc tôi đang đứng trên bục điều khiển buổi lễ. Bất chợt, tôi liếc nhìn anh Bách, anh nhìn lại tôi và lắc đầu ra dấu có gì trục trặc rồi đây.
Buổi lễ xuất quân diễn tiến không lâu. Khi vào hội trường dự tiệc liên hoan, anh Bách ghé tai nói nhỏ với tôi:
- Việc của toa(*) không xong rồi, thằng Trung Úy Q. nó tiêu lòn(**) hay quá; nó đá toa văng rồi.
- Thật vậy sao?
- Chứ sao nữa?Thôi, toa ráng chờ dịp khác đi nhé.
- Tôi đâu có ham chức phó mà chờ; tôi xin sang làm phó cho ông là để ông vui thôi; không được sang thì đâu phải do lỗi của tôi nữa. Thôi cứ coi như số phần nó như vậy. Tôi chỉ tức một điều là “Thằng còng làm, thằng thưỡn ăn”. Đáng lẽ ra, thằng Q. phải về đây lo chuyện huấn luyện binh sĩ và chuẩn bị lễ xuất quân chứ. Thế mà giờ này chẳng thấy mặt mũi nó đâu.
(*) Anh Bách thường dùng tiếng “ toa – moa” ( Tiếng Pháp, toi – moi) để nói chuyện với tôi; còn tôi thì dùng “ông – tôi” khi nói chuyện với anh. Chúng tôi không gọi nhau bằng cấp bậc.
(**) Tiêu lòn là tiếng lóng (slang) dùng trong quân đội Miền Nam trước đây để chỉ hành vi luồn lọt, nịnh bợ, hoặc đút lót/mua chuộc (bribe) cấp trên để xin xỏ một ân huệ nào đó.
Thêm một kỷ niệm nữa với anh Bách khi anh đang làm Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Tiểu Khu Long An. Lúc đó tôi đang làm Pháo Đội Trưởng Pháo đội A/TĐ253PB. Tôi có 3 trung đội, trong đó, Trung đội 3A do Trung Úy Nguyễn Văn Lắm làm Trung Đội trưởng, đóng tại Chi Khu Bến Lức, ngay cạnh Quốc Lộ 4. Trung đội 2A do Thiếu Úy Nguyễn Văn Đắt làm Trung Đội trưởng, đóng tại xã Lương Hoà (cũng thuộc Chi Khu Bến Lức). Tôi thường ở Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn (lúc này đã dời về Củ Chi) vì Trung đội 1A đóng gần Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn. Đôi khi tôi ghé Bến Lức ở với Trung đội 3A dăm ba ngày.
Một hôm, tôi đang ở Bến Lức thì Thiếu Úy Đắt (Lương Hoà) gọi máy về xin đi phép. Trong pháo đội tôi lúc đó không còn sĩ quan có đủ khả năng thay thế Đắt vì đa số là họ mới ra trường hoặc mới mang lon thiếu úy. Nếu tôi cho một trong những người này tới thay Thiếu Úy Đắt, lỡ có chuyện gì xảy ra thì tôi lãnh đủ. Tôi nghĩ, chỉ còn có tôi vào thay cho Đắt là không sao cả.
Kẹt một cái là, muốn vào Lương Hoà, phải đi bằng máy bay trực thăng; mà trực thăng giờ này kiếm đâu ra. Đường thủy thì cũng phải chờ mấy ngày mới có “mở đường” (đi lục soát và giữ an ninh giao thông) một lần mặc dù từ Bến Lức tới Lương Hoà chừng 5 -6 km (4 miles). Không hiểu sao khi đó tôi lại nổi máu anh hùng rơm, quyết định làm một chuyện thật nguy hiểm mà chẳng ai bắt buộc.
Tôi gọi máy sang Chi Khu Bến Lức, hỏi về tình trạng con đường đất chạy cặp theo bờ sông vào Lương Hoà. Tôi hỏi họ, vào ban ngày (ban đêm thì khỏi nói) tụi Việt Cộng có hay xuất hiện dọc theo con đường đất vào Lương Hoà không. Họ cho biết ban ngày thì chưa khi nào thấy; vả lại ban đêm thỉnh thoảng Chi Khu cũng cho đi phục kích ở đó. Họ cho biết hôm nay cũng không thấy có dấu hiệu gì của Việt Cộng ở đó cả. Thế là tôi quyết định đi bộ một mình vào Lương Hoà. Xe Jeep và tài xế, tôi cho nằm chờ tại Bến Lức. Trước khi đi, tôi chỉ thị cho trung đội ở Lương Hoà cũng như ở Bến Lức, mỗi trung đội cho một khẩu đại bác hướng nòng về con đường tôi sẽ đi. Trong khi tôi đi, mỗi trung đội cử người lên đài quan sát, dùng ống nhòm theo dõi tôi đi (hai bên đường là đồng trống). Nếu thấy có người xuất hiện với vũ khí, hoặc khả nghi, tiến về phiá tôi thì tự động bắn để cho bọn chúng bỏ chạy và cũng để tôi chạy thoát thân; cứ bắn khỏi cần xin phép ai, tôi sẽ chịu trách nhiệm. Trên đường đi, tôi mặc bộ đồ trận, mũ lưỡi trai. Cây súng Colt 45 (.45 Colt pistol), tôi không dám đeo bình thường, mà dắt nó trước bụng để tránh cho Việt Cộng nhìn thấy. Tôi đi mất hơn một giờ thì vào tới Lương Hoà.
Khi tới nơi, nghĩ lại thấy sao mà mình ngu quá! Có ai bắt mình phải làm như thế đâu. Tại sao không chờ vài ngày nữa có tầu mở đường, rồi đi theo vào đây thì có chết thằng Tây nào đâu? Đới lính, chậm đi phép năm mười ngày là chuyện nhỏ mà. Tôi tự chửi thầm rằng “Điếc không sợ súng, lỡ bị Việt Cộng cắt cổ thì vợ con mày thiệt thòi, chứ ai vào đây nữa, đồ ngu!”
Trong khi tôi đang bực mình vì sự ngu xuẩn của mình thì, có tiếng Tiểu Khu Trưởng/Tiểu Khu Long An trên hệ thống truyền tin. Vị này có thói quen là mỗi khi có hành quân, ông bắt tất cả các đơn vị ở dưới đất phải vào tần số liên lạc của ông trong lúc ông đang bay C&C (Command and Control). Thiếu Úy Đắt đang bắn (một khẩu thôi) theo sự điều chỉnh pháo binh của ông ấy. Tôi nghe ông ấy gọi về rằng: “Gần lại mười (mét), bắn hiệu quả.” Ủa! sao lại có cái kiểu “gần lại mười” thế này? Về trái, hay về phải mười (mét) thì được, nhưng “ xa hơn” hay “gần lại mười” thì không thể được. Khi điều chỉnh về tầm xa thì, con số nhỏ nhất được phép là 50 mét mà thôi.
Vì thế tôi bảo Thiếu Úy Đắt đưa máy cho tôi, và làm bộ như không biết người điều chỉnh là ông ấy, tôi nói: “Pháo binh không có cái kiểu điều chỉnh về tầm xa mười mét; Tôi sẽ bắn hiệu quả cho anh theo yếu tố cũ.”
Hệ thống truyền tin rè rè mà không thấy ông ấy lên tiếng. Chắc ông ấy quê độ (mắc cở) với các đơn vị bộ binh ở dưới đất. Thiếu Úy Đắt tiếp tục bắn thêm mấy quả nữa rồi thôi.
Vài bữa sau, Thiếu Tá Bách gọi tôi, bảo tôi sang tần số nội bộ để nói chuyện riêng. Anh hỏi tôi:
- Hôm nọ toa làm gì mà xếp “Tặc giăng nổi giận” vậy?
Tôi kể lại sự việc cho anh Bách nghe. Anh nói:
- Xếp bảo moa ký giấy phạt “thằng Trung Đội trưởng” ở Lương Hòa vì lý do vô lễ với thượng cấp. Moa đoán là chỉ có toa, chứ thằng Đắt thì làm sao nó dám liều mạng như vậy được?
- Thế rồi ông tính sao?
- Dễ thôi; moa làm giấy phạt toa 7 ngày “ trọng cấm” (*); rồi gửi cho xếp một bản để xếp vừa lòng. Moa không để (giấy phạt) trong hồ sơ của toa đâu.
- Cám ơn ông. Ông ấy thích dợt le với thuộc cấp, ra cái điều ta đây giỏi điều chỉnh pháo binh. Công việc điều chỉnh pháo binh là của thằng Sĩ Quan Liên Lạc PB; còn việc nói trong máy truyền tin là của thằng âm thoại viên. Đằng này, ông ấy ôm lấy cả hai việc một lúc. Đã thế lại không rành về phương pháp điều chỉnh PB nữa.
- Ai chả biết vậy, nhưng đôi khi toa cũng phải “tránh voi chả xấu mặt nào” chứ; ai lại phạng thẳng thừng như vậy. Thôi nhé, trở lại tần số liên lạc bình thường nghe.
(*) “Trọng cấm” là một hình thức phạt nặng đối với hàng sĩ quan.
Trở lại chuyện đi tầu ra Bắc; khi tầu cập bến Hải Phòng, anh Bách và tôi bị phân tán, mỗi người đi một nơi. Cho đến gần cuối năm 1978, tôi gặp anh Bách một lần ở bờ hồ Thác Bà trong khi đội của anh đi lao động ngang qua chỗ chúng tôi đang vác gạo từ phà vào kho của trại. Từ đó đến nay, không biết anh ở phương trời nào nữa.
Về Nguyễn Xuân Thu cũng vây, khi lên cảng Hải Phòng là bị phân tán và từ đó không có tin gì của Thu nữa. Hôm gặp Nguyễn Trãi trong ngày Đại Hội Cưụ Tù Nhân Chính Trị tại Garland, TX, ngày 4 tháng 10, 2008 vừa qua, Trãi nói:
“Em còn nhớ rõ, anh dặn hai đứa tụi em (Trãi & Thu) phải đứng sát với nhau để khỏi bị xé lẻ; nhưng xui cho thằng Thu là, khi sắp hàng để phân chia từng nhóm 50 người thì em lại là người thứ 50, thằng Thu thứ 51, cho nên nó bị tách sang nhóm sau. Đúng là người tính không bằng trời tính.”
Nguyễn Trãi bây giờ đang ở Houston, trong người mang đủ thứ bệnh, trông già trước tuổi. Đến nỗi con gái út của tôi (cùng đi dự Đại Hội) đã phải thốt lên:
- Sao trông chú Trãi lại già hơn ba vậy?
- Tại vì lúc nào chú ấy cũng chịu khó làm việc, không có lười biếng như ba đâu. Cũng vì tính siêng năng mà, ở trong tù, thời gian đi chặt nứa, chú ấy đôi khi còn làm vượt chỉ tiêu nữa. Vì thế nó đã ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của chú.
Sáng sớm ngày 26/6/1976, tầu hụ còi và rời bến. Khi tầu ra tới biển, chúng tôi tìm cách đoán xem tầu chạy hướng nào. Ngày đầu chưa ai xác định được hướng tầu chạy. Sang ngày thứ hai thì nhờ có ánh mặt trời, chúng tôi đã biết biết chắc là bị đưa ra Bắc rồi.
Mỗi sáng, Việt Cộng thòng vòi nước xuống cho chúng tôi lấy nước. Mọi người phải tận dụng chai lọ, ca cóng của mình để chứa nước uống trong ngày. Sau nước tới màn thực phẩm. Thực phẩm chủ yếu là mì gói mà bọn Việt Cộng lấy được trong kho của mấy chú ba Tầu Chợ Lớn. Hình như có một ngày chúng phát lương khô Trung Cộng mà chúng gọi là lương khô tổng hợp. Việt Cộng đứng trên miệng khoang tầu, ném các thùng đồ ăn xuống để chúng tôi chia nhau. Nhìn cảnh này tôi có cảm tưởng rằng mình giống như mấy con gấu chó ở vườn Bách Thảo Sài Gòn đang được dân chúng ném đồ ăn xuống hầm cho chúng vậy!
Khoang tầu có một cầu thang đi lên boong tầu. Ở lưng chừng cầu thang, Việt Cộng hướng dẫn tụi tôi kê một cái thùng phuy (200 lít – 50 gallons) dùng làm nơi tiêu và tiểu , Khi thùng gần đầy thì chúng bắt tụi tôi đem lên boong đi đổ. Đi đổ phân hôi rình mà nhiều người tình nguyện đi đổ bởi vì muốn được lên boong tầu cho tầm mắt được mở rộng.
Đi cầu là cả một vấn đề! Khoảng cách tối đa từ chỗ mình ngồi tới chỗ đi cầu là 15 mét (50 ft) nhưng muốn tới được đó cũng mất ít nhất là 20 phút vì phải lách tránh những người khác. Những người không may mà phải ở phía dưới "cầu tiêu" thì thường phải hứng nước tiểu rớt xuống đầu. Thấy tình cảnh này, tôi không dám ăn uống nhiều , chỉ ăn cầm chừng để được sống qua mấy ngày đi biển. Nước cũng không dám uống nhiều, tuy nhiên việc đi tiểu thì dễ giải quyết hơn, bằng cách dùng bao ni lông, sau khi xong thì mở nắp bao ni lông cho nó chảy từ từ xuống hầm sàn tầu. Tầu chở hàng thường có phần trống ở dưới sàn tầu để chứa nước, tránh cho hàng khỏi bị ướt khi có nước tràn vào. Nhờ vậy mà trong ba ngày bốn đêm (?) tôi không phải đi cầu lần nào cho tới khi...
3.3. Lên bờ
Tầu Sông Hương đã đến Hải Phòng. Tuy nhiên, chúng tôi không được lên bờ tại bến cảng chính – nơi có nhiều tầu thuyền ngoại quốc ra vô – vì chúng (Việt Cộng) không muốn cho ai biết việc chúng đưa chúng tôi ra Bắc.
Hải Phòng có nhiều bến phụ, dùng cho tầu bè loại nhỏ. Những bến này thường vắng vẻ. Khi lên bờ, tôi chỉ thấy có duy nhất là chiếc tầu Sông Hương chở chúng tôi mà thôi. Chỗ lên bờ của chúng tôi là bến Hạ Lý (theo sự hiểu biết của một số anh đã từng sống ở Hải Phòng trước năm 1954).
Chúng tôi lên bờ lúc đó vào khoảng 9-10 giờ đêm. Bước chân lên bến là chúng tôi thấy một đoàn công an đã chờ sẵn. Bọn công an này rất nặng về phần trình diễn: Đứa nào cũng mũ "kết", đồ bốn túi ủi láng coóng, giầy đen thấp cổ bóng lộn (có lẽ kiến bò cũng phải trượt té, giống như thời kỳ chúng tôi còn học ở quân trường). Rồi mỗi đứa lại dắt theo một con chó bẹc giê to tổ chảng, so với vóc dáng của mấy tên công an thì chẳng cân xứng tí nào cả. Chúng đứng cách nhau độ 20 mét (60 ft), mặt gườm gườm như đang muốn ăn thịt tụi tôi vậy. Có đứa thì mặt cứ vênh lên, ra cái điều ta đây. Tôi nghĩ có lẽ vì mặc cảm tự ti cho nên chúng phải cố làm ra cho có vẻ ta đây cũng văn minh như ai, đâu có dép râu “như tụi bay tưởng”.
Một tên công an cầm loa phóng thanh, nói lớn: “Chào mừng các anh đã đặt chân lên Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Lúc nữa các anh sẽ được làm thủ tục nhập cảnh.”
Uả! Sao lạ vậy? Cùng một nước Việt Nam mà lại có màn lập thủ tục nhập cảnh nữa à? Sau này mới hiểu ra “thủ tục nhập cảnh” của tụi nó có nghĩa là chích ngừa. Chúng tôi chẳng ai biết là ngừa cái gì nữa. Trên bến có một số bàn kê sẵn, có y tá mặc áo choàng trắng ngồi chờ sẵn. Bọn chúng cho chúng tôi ngồi thành hàng, mỗi nhóm là 100 người, sẽ tới bàn chỉ định để chích ngừa. Tôi chẳng biết đó là thuốc ngừa bệnh gì; trong lòng nghĩ thầm rằng, không chừng nó lại chích cho mình một loại thuốc độc nào đó; thuốc không giết mình ngay nhưng dần dần sẽ có tác dụng lên cơ thể thì sao? Chỉ có trời biết! Đến bây giờ , tôi còn sống nhăn răng thì chắc đó không phải là thuốc độc rồi.
Sau màn chích ngừa, chúng tôi đươc phát mỗi người một bịch ni-lông, trong đó có hai trái chuối tiêu (chuối già) nhỏ, một củ khoai lang luộc và ba tờ giấy bản (loại giấy xấu nhất, màu vàng khè, dùng để lau chùi).
Chúng cho bọn tôi đi tiêu, đi tiểu ở một hố dài (giống như giao thông hào) đã đào sẵn ở gần bến tầu mà tôi thấy đã có dấu phân mới, chắc là của những chuyến tầu trước. Qua mấy ngày không đi tiêu, tôi bị bón nặng, rặn hết sức cũng không được. Cuối cùng tôi phải nhờ "chị năm" (bàn tay năm ngón) giúp tôi moi từng viên nhỏ bằng hạt bắp , cứ thế cho đến khi hết "hạt bắp" thì phần còn lại mới từ từ ra được. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì đã trút được một gánh nặng. Người ta bảo “Thứ nhất tắm sông, thứ nhì ỉa đồng,” nhưng tôi chẳng cảm thấy cái thú ỉa đồng lúc này vì tâm trạng đâu có yên ổn, phải cố gắng làm sao cho “công việc” chóng xong kẻo đang dở chừng mà nó thổi còi tập họp thì khổ lắm. Khi mọi người đã xong xuôi, bọn công an kêu tập họp, rồi phân chia từng nhóm 50 người (đủ cho một toa xe lửa) để chuẩn bị đi tiếp. Chúng tôi đi bộ chừng 15 phút thì ra tới chỗ xe lửa đậu, và chúng tôi lên xe.
Một số bạn cùng đi chuyến tầu với tôi thì nói khác.
Anh Nguyễn Quang Ngọ kể rằng khi tầu cặp bến, tù lên bờ và ngay lập tức, tù được chia từng nhóm nhỏ và chuyển sang loại tầu há mồm loại nhỏ (có người gọi là phà). Sau đó tầu nhỏ chở tù đi tiếp trong một con sông nhỏ, cũng mất khoảng trên một giờ thì cặp bến; tù lên bờ và làm các thủ tục như đã kể trên.
Anh Vũ Ngự Chiệu và Dương Ngọc Phú kể rằng tầu Sông Hương không cặp sát bến, mà đậu ở ngoài xa. Tù được chuyển xuống xà lan, rồi xà lan đưa tù vào bờ. Thậm chí xà lan cũng không vào sát bờ được; tù phải lội một quãng rồi mới lên bờ được. Anh Phú nói rằng anh có một kỷ niệm khó quên trong lúc anh lội vào bờ như sau: Trong lúc đang lội, một cái dép Nhật (loại dép bằng cao su xốp, có quai hình chữ V ngược) bị kẹt dưới bùn, anh quay lại mò mẫm tìm dép; nhưng dép của mình không thấy, mà lại vớ được một cái dép râu (làm bằng vỏ xe hơi mà bọn Việt Cộng gọi là dép Bình-Trị-Thiên), chắc là của người nào đó đi chuyến trước bị mất. Thôi thì dép râu cũng được, miễn là có dép.
Anh Võ Tấn Tài và Nguyễn Tiến Xuyên thì kể lại sự việc lên bờ giống như trường hợp của tôi, nhưng giờ giấc lên bờ thì khác nhau. Các anh lên bờ sớm hơn tôi.
Nên nhớ rằng đằng sau mỗi bến, cách độ 70 – 100 mét (200 – 300 ft) là có đường rầy xe lửa, và xe lữa đã chờ sẵn ở đó để chở tù.
Sao lạ vậy? Cùng một chuyến tầu mà mỗi người kể lại khác nhau. Có vô lý không? Không đâu. Lý do là vì tầu Sông Hương chở trên dưới ba ngàn người, tạm coi như có sáu khoang (chỉ phỏng đoán thôi); mỗi khoang chừng 500 người. Mấy bến tầu phụ không đủ chỗ tiếp nhận một lúc ba ngàn người. Vì thế, bọn Việt Cộng chỉ cho một khoang (500 người) lên một bến, rồi lại cho 500 người kế tiếp lên một bến khác. Cứ thế cho đến khi đổ hết tù lên bờ thì tầu Sông Hương quay trở về Miền Nam chở chuyến kế tiếp.
Rồi chuyện phải đến đã đến. Hôm đó là ngày 25 tháng 6 năm 1976, chúng tôi vừa ăn cơm chiều xong thì có lệnh tập họp, mang theo đồ đạc cá nhân ra sân. Khi chúng tôi đã sẵn sàng, bọn quản giáo xuống, bắt đầu mục khám xét đồ đạc. Trước khi mang đồ ra sân, tôi chạy vội vào nhà cầu, cột cái kéo hớt tóc lên cánh tay, phía gần nách; sau đó mặc áo lại và theo đồng đội ra sân. Tôi đã qua mặt bọn quản giáo, giấu được cái kéo và mang nó theo.
Công việc khám xét xong thì trời bắt đầu tối. Chúng tôi được chia ra từng nhóm 25 người. Tôi nghĩ ngay rằng tụi tôi sẽ được chở đi bằng xe Molotova, 25 người cho một xe, giống như ngày từ Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ về Long Giao. Bây giờ lại đoán mò; người thì bảo sẽ đi Katum (Phước Long); người thì bảo sẽ ra miền Trung v.v…
Chừng 9 giờ đêm, đoàn xe tới. Mỗi nhóm 25 người lên một xe. Khi mọi người đã ở trên xe, tài xế và vệ binh kéo bạt phủ kín. Không khí chỉ vào qua mấy lỗ nhỏ trên nóc xe; chúng tôi bắt đầu cảm thấy ngộp thở; trong lòng mong cho xe mau chạy để có gió thổi, đưa không khí vào xe nhiều hơn.
Chờ chừng hơn nửa tiếng, xe bắt đầu lăn bánh. Trời bên ngoài tối thui, xe lại bi che kín, chúng tôi chẳng biết đoàn xe đi hướng nào. Quá nửa đêm, xe từ từ ngừng lại; mui xe được vén lên; báo hiệu đã tới nơi. Nhìn ra ngoài thì thấy bến tầu Tân Cảng (còn gọi là New Port, trên sông Sài-Gòn), chúng tôi được lệnh xuống xe và sắp hàng, ngồi chờ. Cách chúng tôi chừng 200 mét (độ 700 ft) là con tầu biển mang tên Sông Hương, đang lừng lững trước mặt, như thể đang chờ để nuốt chúng tôi vào bụng của nó.
3.2. Xuống tầu
Trong đời tôi, chắc không thể quên được chuyến tầu có một không hai này. Dù đến nay đã 32 năm qua (1976 – 2008) mà như nó vẫn như mới xảy ra hôm nào đây thôi.
Chúng tôi chờ chừng hơn một giờ thì được lệnh lên tàu. Lên tầu bằng một cầu gỗ rất hẹp và đung đưa rất dễ sợ.
Đi trước tôi khoảng chừng mười người, có một anh (không rõ lý lịch), chẳng hiểu là anh ấy cố tình hay là vô ý, đã rớt xuống sông trong lúc anh đang ở giữa cầu. Một vài tiếng kêu nho nhỏ “Có người rớt xuống sông." Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn phải tiếp tục tiến về phía trước. Chẳng thấy có phản ứng gì về phía những người áp giải chúng tôi. Chúng tôi vào trong khoang tầu là chẳng còn biết gì thêm. Chắc hẳn anh đó đã thoát khỏi nợ trần ngay đêm hôm đó rồi!
Tầu Sông Hương là tầu chở hàng nhưng tôi không biết nó có bao nhiêu khoang. Có người nói rằng tầu Sông Hương chở được ba ngàn người, như vậy nó có thể có 6 khoang. Mỗi khoang rộng chừng 15m x 15m (tương đương với 2.500 SF). Chúng tôi cứ bị dồn hoài, dồn hoài cho đến khi không còn nhúc nhích được nữa mới ngưng. Tôi ước chừng mỗi người chỉ được chừng gần 5 SF, tức là khoảng chừng 500 người cho một khoang tầu (2500 SF / 5 SF = 500 người).
Chúng tôi chỉ có thể ngồi bó gối và dựa vào túi đeo lưng của mình. Không ai có thể duỗi chân thẳng ra được. Năm người chúng tôi ngồi cạnh nhau mới nghĩ ra một cách là gom tất cả đồ đạc của 5 người lại, xếp thành một hàng dọc chừng 5 FT, dùng để thay phiên nhau mà ngả lưng cho đỡ mệt. Bốn người còn lại thì ngồi tán gẫu cho quên đời, chờ đến phiên mình ngả lưng. Trong nhóm 5 người này, tôi còn nhớ được tên 4 người; đó là Thiếu Tá Đặng Ngọc Bách (khóa 7 Pháo binh), Nguyễn Trãi (khóa 22 Pháo binh), Nguyễn Xuân Thu (không rõ cấp bậc và binh chủng), và tôi - Nguyễn Văn Thái (khóa 14 Pháo binh).
Anh Bách là đàn anh của tôi; hai chúng tôi quen biết nhau từ trước. Tôi có một ít kỷ niệm với anh Bách trước khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tan hàng. Khi Sư Đoàn 25 Bộ Binh thành lập thêm một Tiểu đoàn Pháo binh 105 ly thứ ba, tức sẽ là Tiểu Đoàn 253 Pháo Binh. Anh Bách về làm Pháo Đội Trưởng Pháo đội Chỉ Huy. Tôi làm Sĩ Quan Truyền Tin và sau làm Quyền Sĩ Quan Hành Quân & Huấn Luyện của tiểu đoàn.
Đầu năm 1970, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có kế hoạch thành lập Pháo Binh Diện Địa. Anh Bách được chọn làm Chỉ Huy Trưởng PB/Tiểu Khu Long An. Anh Bách rủ tôi sang làm phó cho anh ấy vì hai người đã hiểu nhau thì làm việc dễ dàng hơn. Tôi đồng ý. Rồi một hôm, anh Bách chở tôi lên Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 (Biên Hòa) gặp Đại Tá Hồ Nhựt Quan, khi đó đang làm Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn 3, để xin ông cho tôi về làm phó cho anh Bách. Đại Tá Quan cho biết không có gì trở ngại. Thế là tôi bắt đầu công tác huấn luyện cho các quân nhân có lệnh thuyên chuyển về Pháo Binh Tiểu Khu Long An.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 253 PB lúc này đang ở Chi Khu Bến Lức, có nhiệm vụ làm đơn vị “Mẹ” cho Pháo Binh/Tiểu Khu Long An. Tôi vừa làm công việc của TĐ253PB, vừa chuẩn bị cho Pháo Binh/Tiểu Khu Long An xuất quân. Đến ngày lễ xuất quân của PB/TK Long An, có Đại Tá Quan tới chứng kiến. Khi vừa bước xuống xe, ông gọi anh Bách lại nói nhỏ gì đó trong lúc tôi đang đứng trên bục điều khiển buổi lễ. Bất chợt, tôi liếc nhìn anh Bách, anh nhìn lại tôi và lắc đầu ra dấu có gì trục trặc rồi đây.
Buổi lễ xuất quân diễn tiến không lâu. Khi vào hội trường dự tiệc liên hoan, anh Bách ghé tai nói nhỏ với tôi:
- Việc của toa(*) không xong rồi, thằng Trung Úy Q. nó tiêu lòn(**) hay quá; nó đá toa văng rồi.
- Thật vậy sao?
- Chứ sao nữa?Thôi, toa ráng chờ dịp khác đi nhé.
- Tôi đâu có ham chức phó mà chờ; tôi xin sang làm phó cho ông là để ông vui thôi; không được sang thì đâu phải do lỗi của tôi nữa. Thôi cứ coi như số phần nó như vậy. Tôi chỉ tức một điều là “Thằng còng làm, thằng thưỡn ăn”. Đáng lẽ ra, thằng Q. phải về đây lo chuyện huấn luyện binh sĩ và chuẩn bị lễ xuất quân chứ. Thế mà giờ này chẳng thấy mặt mũi nó đâu.
(*) Anh Bách thường dùng tiếng “ toa – moa” ( Tiếng Pháp, toi – moi) để nói chuyện với tôi; còn tôi thì dùng “ông – tôi” khi nói chuyện với anh. Chúng tôi không gọi nhau bằng cấp bậc.
(**) Tiêu lòn là tiếng lóng (slang) dùng trong quân đội Miền Nam trước đây để chỉ hành vi luồn lọt, nịnh bợ, hoặc đút lót/mua chuộc (bribe) cấp trên để xin xỏ một ân huệ nào đó.
Thêm một kỷ niệm nữa với anh Bách khi anh đang làm Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Tiểu Khu Long An. Lúc đó tôi đang làm Pháo Đội Trưởng Pháo đội A/TĐ253PB. Tôi có 3 trung đội, trong đó, Trung đội 3A do Trung Úy Nguyễn Văn Lắm làm Trung Đội trưởng, đóng tại Chi Khu Bến Lức, ngay cạnh Quốc Lộ 4. Trung đội 2A do Thiếu Úy Nguyễn Văn Đắt làm Trung Đội trưởng, đóng tại xã Lương Hoà (cũng thuộc Chi Khu Bến Lức). Tôi thường ở Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn (lúc này đã dời về Củ Chi) vì Trung đội 1A đóng gần Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn. Đôi khi tôi ghé Bến Lức ở với Trung đội 3A dăm ba ngày.
Một hôm, tôi đang ở Bến Lức thì Thiếu Úy Đắt (Lương Hoà) gọi máy về xin đi phép. Trong pháo đội tôi lúc đó không còn sĩ quan có đủ khả năng thay thế Đắt vì đa số là họ mới ra trường hoặc mới mang lon thiếu úy. Nếu tôi cho một trong những người này tới thay Thiếu Úy Đắt, lỡ có chuyện gì xảy ra thì tôi lãnh đủ. Tôi nghĩ, chỉ còn có tôi vào thay cho Đắt là không sao cả.
Kẹt một cái là, muốn vào Lương Hoà, phải đi bằng máy bay trực thăng; mà trực thăng giờ này kiếm đâu ra. Đường thủy thì cũng phải chờ mấy ngày mới có “mở đường” (đi lục soát và giữ an ninh giao thông) một lần mặc dù từ Bến Lức tới Lương Hoà chừng 5 -6 km (4 miles). Không hiểu sao khi đó tôi lại nổi máu anh hùng rơm, quyết định làm một chuyện thật nguy hiểm mà chẳng ai bắt buộc.
Tôi gọi máy sang Chi Khu Bến Lức, hỏi về tình trạng con đường đất chạy cặp theo bờ sông vào Lương Hoà. Tôi hỏi họ, vào ban ngày (ban đêm thì khỏi nói) tụi Việt Cộng có hay xuất hiện dọc theo con đường đất vào Lương Hoà không. Họ cho biết ban ngày thì chưa khi nào thấy; vả lại ban đêm thỉnh thoảng Chi Khu cũng cho đi phục kích ở đó. Họ cho biết hôm nay cũng không thấy có dấu hiệu gì của Việt Cộng ở đó cả. Thế là tôi quyết định đi bộ một mình vào Lương Hoà. Xe Jeep và tài xế, tôi cho nằm chờ tại Bến Lức. Trước khi đi, tôi chỉ thị cho trung đội ở Lương Hoà cũng như ở Bến Lức, mỗi trung đội cho một khẩu đại bác hướng nòng về con đường tôi sẽ đi. Trong khi tôi đi, mỗi trung đội cử người lên đài quan sát, dùng ống nhòm theo dõi tôi đi (hai bên đường là đồng trống). Nếu thấy có người xuất hiện với vũ khí, hoặc khả nghi, tiến về phiá tôi thì tự động bắn để cho bọn chúng bỏ chạy và cũng để tôi chạy thoát thân; cứ bắn khỏi cần xin phép ai, tôi sẽ chịu trách nhiệm. Trên đường đi, tôi mặc bộ đồ trận, mũ lưỡi trai. Cây súng Colt 45 (.45 Colt pistol), tôi không dám đeo bình thường, mà dắt nó trước bụng để tránh cho Việt Cộng nhìn thấy. Tôi đi mất hơn một giờ thì vào tới Lương Hoà.
Khi tới nơi, nghĩ lại thấy sao mà mình ngu quá! Có ai bắt mình phải làm như thế đâu. Tại sao không chờ vài ngày nữa có tầu mở đường, rồi đi theo vào đây thì có chết thằng Tây nào đâu? Đới lính, chậm đi phép năm mười ngày là chuyện nhỏ mà. Tôi tự chửi thầm rằng “Điếc không sợ súng, lỡ bị Việt Cộng cắt cổ thì vợ con mày thiệt thòi, chứ ai vào đây nữa, đồ ngu!”
Trong khi tôi đang bực mình vì sự ngu xuẩn của mình thì, có tiếng Tiểu Khu Trưởng/Tiểu Khu Long An trên hệ thống truyền tin. Vị này có thói quen là mỗi khi có hành quân, ông bắt tất cả các đơn vị ở dưới đất phải vào tần số liên lạc của ông trong lúc ông đang bay C&C (Command and Control). Thiếu Úy Đắt đang bắn (một khẩu thôi) theo sự điều chỉnh pháo binh của ông ấy. Tôi nghe ông ấy gọi về rằng: “Gần lại mười (mét), bắn hiệu quả.” Ủa! sao lại có cái kiểu “gần lại mười” thế này? Về trái, hay về phải mười (mét) thì được, nhưng “ xa hơn” hay “gần lại mười” thì không thể được. Khi điều chỉnh về tầm xa thì, con số nhỏ nhất được phép là 50 mét mà thôi.
Vì thế tôi bảo Thiếu Úy Đắt đưa máy cho tôi, và làm bộ như không biết người điều chỉnh là ông ấy, tôi nói: “Pháo binh không có cái kiểu điều chỉnh về tầm xa mười mét; Tôi sẽ bắn hiệu quả cho anh theo yếu tố cũ.”
Hệ thống truyền tin rè rè mà không thấy ông ấy lên tiếng. Chắc ông ấy quê độ (mắc cở) với các đơn vị bộ binh ở dưới đất. Thiếu Úy Đắt tiếp tục bắn thêm mấy quả nữa rồi thôi.
Vài bữa sau, Thiếu Tá Bách gọi tôi, bảo tôi sang tần số nội bộ để nói chuyện riêng. Anh hỏi tôi:
- Hôm nọ toa làm gì mà xếp “Tặc giăng nổi giận” vậy?
Tôi kể lại sự việc cho anh Bách nghe. Anh nói:
- Xếp bảo moa ký giấy phạt “thằng Trung Đội trưởng” ở Lương Hòa vì lý do vô lễ với thượng cấp. Moa đoán là chỉ có toa, chứ thằng Đắt thì làm sao nó dám liều mạng như vậy được?
- Thế rồi ông tính sao?
- Dễ thôi; moa làm giấy phạt toa 7 ngày “ trọng cấm” (*); rồi gửi cho xếp một bản để xếp vừa lòng. Moa không để (giấy phạt) trong hồ sơ của toa đâu.
- Cám ơn ông. Ông ấy thích dợt le với thuộc cấp, ra cái điều ta đây giỏi điều chỉnh pháo binh. Công việc điều chỉnh pháo binh là của thằng Sĩ Quan Liên Lạc PB; còn việc nói trong máy truyền tin là của thằng âm thoại viên. Đằng này, ông ấy ôm lấy cả hai việc một lúc. Đã thế lại không rành về phương pháp điều chỉnh PB nữa.
- Ai chả biết vậy, nhưng đôi khi toa cũng phải “tránh voi chả xấu mặt nào” chứ; ai lại phạng thẳng thừng như vậy. Thôi nhé, trở lại tần số liên lạc bình thường nghe.
(*) “Trọng cấm” là một hình thức phạt nặng đối với hàng sĩ quan.
Trở lại chuyện đi tầu ra Bắc; khi tầu cập bến Hải Phòng, anh Bách và tôi bị phân tán, mỗi người đi một nơi. Cho đến gần cuối năm 1978, tôi gặp anh Bách một lần ở bờ hồ Thác Bà trong khi đội của anh đi lao động ngang qua chỗ chúng tôi đang vác gạo từ phà vào kho của trại. Từ đó đến nay, không biết anh ở phương trời nào nữa.
Về Nguyễn Xuân Thu cũng vây, khi lên cảng Hải Phòng là bị phân tán và từ đó không có tin gì của Thu nữa. Hôm gặp Nguyễn Trãi trong ngày Đại Hội Cưụ Tù Nhân Chính Trị tại Garland, TX, ngày 4 tháng 10, 2008 vừa qua, Trãi nói:
“Em còn nhớ rõ, anh dặn hai đứa tụi em (Trãi & Thu) phải đứng sát với nhau để khỏi bị xé lẻ; nhưng xui cho thằng Thu là, khi sắp hàng để phân chia từng nhóm 50 người thì em lại là người thứ 50, thằng Thu thứ 51, cho nên nó bị tách sang nhóm sau. Đúng là người tính không bằng trời tính.”
Nguyễn Trãi bây giờ đang ở Houston, trong người mang đủ thứ bệnh, trông già trước tuổi. Đến nỗi con gái út của tôi (cùng đi dự Đại Hội) đã phải thốt lên:
- Sao trông chú Trãi lại già hơn ba vậy?
- Tại vì lúc nào chú ấy cũng chịu khó làm việc, không có lười biếng như ba đâu. Cũng vì tính siêng năng mà, ở trong tù, thời gian đi chặt nứa, chú ấy đôi khi còn làm vượt chỉ tiêu nữa. Vì thế nó đã ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của chú.
Sáng sớm ngày 26/6/1976, tầu hụ còi và rời bến. Khi tầu ra tới biển, chúng tôi tìm cách đoán xem tầu chạy hướng nào. Ngày đầu chưa ai xác định được hướng tầu chạy. Sang ngày thứ hai thì nhờ có ánh mặt trời, chúng tôi đã biết biết chắc là bị đưa ra Bắc rồi.
Mỗi sáng, Việt Cộng thòng vòi nước xuống cho chúng tôi lấy nước. Mọi người phải tận dụng chai lọ, ca cóng của mình để chứa nước uống trong ngày. Sau nước tới màn thực phẩm. Thực phẩm chủ yếu là mì gói mà bọn Việt Cộng lấy được trong kho của mấy chú ba Tầu Chợ Lớn. Hình như có một ngày chúng phát lương khô Trung Cộng mà chúng gọi là lương khô tổng hợp. Việt Cộng đứng trên miệng khoang tầu, ném các thùng đồ ăn xuống để chúng tôi chia nhau. Nhìn cảnh này tôi có cảm tưởng rằng mình giống như mấy con gấu chó ở vườn Bách Thảo Sài Gòn đang được dân chúng ném đồ ăn xuống hầm cho chúng vậy!
Khoang tầu có một cầu thang đi lên boong tầu. Ở lưng chừng cầu thang, Việt Cộng hướng dẫn tụi tôi kê một cái thùng phuy (200 lít – 50 gallons) dùng làm nơi tiêu và tiểu , Khi thùng gần đầy thì chúng bắt tụi tôi đem lên boong đi đổ. Đi đổ phân hôi rình mà nhiều người tình nguyện đi đổ bởi vì muốn được lên boong tầu cho tầm mắt được mở rộng.
Đi cầu là cả một vấn đề! Khoảng cách tối đa từ chỗ mình ngồi tới chỗ đi cầu là 15 mét (50 ft) nhưng muốn tới được đó cũng mất ít nhất là 20 phút vì phải lách tránh những người khác. Những người không may mà phải ở phía dưới "cầu tiêu" thì thường phải hứng nước tiểu rớt xuống đầu. Thấy tình cảnh này, tôi không dám ăn uống nhiều , chỉ ăn cầm chừng để được sống qua mấy ngày đi biển. Nước cũng không dám uống nhiều, tuy nhiên việc đi tiểu thì dễ giải quyết hơn, bằng cách dùng bao ni lông, sau khi xong thì mở nắp bao ni lông cho nó chảy từ từ xuống hầm sàn tầu. Tầu chở hàng thường có phần trống ở dưới sàn tầu để chứa nước, tránh cho hàng khỏi bị ướt khi có nước tràn vào. Nhờ vậy mà trong ba ngày bốn đêm (?) tôi không phải đi cầu lần nào cho tới khi...
3.3. Lên bờ
Tầu Sông Hương đã đến Hải Phòng. Tuy nhiên, chúng tôi không được lên bờ tại bến cảng chính – nơi có nhiều tầu thuyền ngoại quốc ra vô – vì chúng (Việt Cộng) không muốn cho ai biết việc chúng đưa chúng tôi ra Bắc.
Hải Phòng có nhiều bến phụ, dùng cho tầu bè loại nhỏ. Những bến này thường vắng vẻ. Khi lên bờ, tôi chỉ thấy có duy nhất là chiếc tầu Sông Hương chở chúng tôi mà thôi. Chỗ lên bờ của chúng tôi là bến Hạ Lý (theo sự hiểu biết của một số anh đã từng sống ở Hải Phòng trước năm 1954).
Chúng tôi lên bờ lúc đó vào khoảng 9-10 giờ đêm. Bước chân lên bến là chúng tôi thấy một đoàn công an đã chờ sẵn. Bọn công an này rất nặng về phần trình diễn: Đứa nào cũng mũ "kết", đồ bốn túi ủi láng coóng, giầy đen thấp cổ bóng lộn (có lẽ kiến bò cũng phải trượt té, giống như thời kỳ chúng tôi còn học ở quân trường). Rồi mỗi đứa lại dắt theo một con chó bẹc giê to tổ chảng, so với vóc dáng của mấy tên công an thì chẳng cân xứng tí nào cả. Chúng đứng cách nhau độ 20 mét (60 ft), mặt gườm gườm như đang muốn ăn thịt tụi tôi vậy. Có đứa thì mặt cứ vênh lên, ra cái điều ta đây. Tôi nghĩ có lẽ vì mặc cảm tự ti cho nên chúng phải cố làm ra cho có vẻ ta đây cũng văn minh như ai, đâu có dép râu “như tụi bay tưởng”.
Một tên công an cầm loa phóng thanh, nói lớn: “Chào mừng các anh đã đặt chân lên Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Lúc nữa các anh sẽ được làm thủ tục nhập cảnh.”
Uả! Sao lạ vậy? Cùng một nước Việt Nam mà lại có màn lập thủ tục nhập cảnh nữa à? Sau này mới hiểu ra “thủ tục nhập cảnh” của tụi nó có nghĩa là chích ngừa. Chúng tôi chẳng ai biết là ngừa cái gì nữa. Trên bến có một số bàn kê sẵn, có y tá mặc áo choàng trắng ngồi chờ sẵn. Bọn chúng cho chúng tôi ngồi thành hàng, mỗi nhóm là 100 người, sẽ tới bàn chỉ định để chích ngừa. Tôi chẳng biết đó là thuốc ngừa bệnh gì; trong lòng nghĩ thầm rằng, không chừng nó lại chích cho mình một loại thuốc độc nào đó; thuốc không giết mình ngay nhưng dần dần sẽ có tác dụng lên cơ thể thì sao? Chỉ có trời biết! Đến bây giờ , tôi còn sống nhăn răng thì chắc đó không phải là thuốc độc rồi.
Sau màn chích ngừa, chúng tôi đươc phát mỗi người một bịch ni-lông, trong đó có hai trái chuối tiêu (chuối già) nhỏ, một củ khoai lang luộc và ba tờ giấy bản (loại giấy xấu nhất, màu vàng khè, dùng để lau chùi).
Chúng cho bọn tôi đi tiêu, đi tiểu ở một hố dài (giống như giao thông hào) đã đào sẵn ở gần bến tầu mà tôi thấy đã có dấu phân mới, chắc là của những chuyến tầu trước. Qua mấy ngày không đi tiêu, tôi bị bón nặng, rặn hết sức cũng không được. Cuối cùng tôi phải nhờ "chị năm" (bàn tay năm ngón) giúp tôi moi từng viên nhỏ bằng hạt bắp , cứ thế cho đến khi hết "hạt bắp" thì phần còn lại mới từ từ ra được. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì đã trút được một gánh nặng. Người ta bảo “Thứ nhất tắm sông, thứ nhì ỉa đồng,” nhưng tôi chẳng cảm thấy cái thú ỉa đồng lúc này vì tâm trạng đâu có yên ổn, phải cố gắng làm sao cho “công việc” chóng xong kẻo đang dở chừng mà nó thổi còi tập họp thì khổ lắm. Khi mọi người đã xong xuôi, bọn công an kêu tập họp, rồi phân chia từng nhóm 50 người (đủ cho một toa xe lửa) để chuẩn bị đi tiếp. Chúng tôi đi bộ chừng 15 phút thì ra tới chỗ xe lửa đậu, và chúng tôi lên xe.
Một số bạn cùng đi chuyến tầu với tôi thì nói khác.
Anh Nguyễn Quang Ngọ kể rằng khi tầu cặp bến, tù lên bờ và ngay lập tức, tù được chia từng nhóm nhỏ và chuyển sang loại tầu há mồm loại nhỏ (có người gọi là phà). Sau đó tầu nhỏ chở tù đi tiếp trong một con sông nhỏ, cũng mất khoảng trên một giờ thì cặp bến; tù lên bờ và làm các thủ tục như đã kể trên.
Anh Vũ Ngự Chiệu và Dương Ngọc Phú kể rằng tầu Sông Hương không cặp sát bến, mà đậu ở ngoài xa. Tù được chuyển xuống xà lan, rồi xà lan đưa tù vào bờ. Thậm chí xà lan cũng không vào sát bờ được; tù phải lội một quãng rồi mới lên bờ được. Anh Phú nói rằng anh có một kỷ niệm khó quên trong lúc anh lội vào bờ như sau: Trong lúc đang lội, một cái dép Nhật (loại dép bằng cao su xốp, có quai hình chữ V ngược) bị kẹt dưới bùn, anh quay lại mò mẫm tìm dép; nhưng dép của mình không thấy, mà lại vớ được một cái dép râu (làm bằng vỏ xe hơi mà bọn Việt Cộng gọi là dép Bình-Trị-Thiên), chắc là của người nào đó đi chuyến trước bị mất. Thôi thì dép râu cũng được, miễn là có dép.
Anh Võ Tấn Tài và Nguyễn Tiến Xuyên thì kể lại sự việc lên bờ giống như trường hợp của tôi, nhưng giờ giấc lên bờ thì khác nhau. Các anh lên bờ sớm hơn tôi.
Nên nhớ rằng đằng sau mỗi bến, cách độ 70 – 100 mét (200 – 300 ft) là có đường rầy xe lửa, và xe lữa đã chờ sẵn ở đó để chở tù.
Sao lạ vậy? Cùng một chuyến tầu mà mỗi người kể lại khác nhau. Có vô lý không? Không đâu. Lý do là vì tầu Sông Hương chở trên dưới ba ngàn người, tạm coi như có sáu khoang (chỉ phỏng đoán thôi); mỗi khoang chừng 500 người. Mấy bến tầu phụ không đủ chỗ tiếp nhận một lúc ba ngàn người. Vì thế, bọn Việt Cộng chỉ cho một khoang (500 người) lên một bến, rồi lại cho 500 người kế tiếp lên một bến khác. Cứ thế cho đến khi đổ hết tù lên bờ thì tầu Sông Hương quay trở về Miền Nam chở chuyến kế tiếp.
No comments:
Post a Comment