Friday, November 13, 2009

Một năm ở Long Giao (Long Khánh)


2.1. Bắt đầu của “Học tập 10 ngày”

Chúng tôi được chỉ định trình diện tại trường nữ trung học Lê Văn Duyệt, Gia Định. Nhưng khi tới nơi thì họ không nhận thêm vì thiếu chỗ. Họ bảo chúng tôi tới trình diện tại Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ. Khi chúng tôi tới nơi, trời đã nhá nhem tối. Ngoài cổng có một tên bộ đội ngồi gác. Nó cho chúng tôi mang đồ đạc vào trong và tới một căn phòng tiếp nhận mà bên ngoài cửa cũng có hai tên bộ đội ôm súng, ngồi gác; mặt mũi chúng tỏ rõ vẻ đằng đằng sát khí. Tôi thấy những người tới trước cũng gần chật căn phòng, mặt người nào cũng lộ rõ vẻ đăm chiêu. Căn phòng gần một trăm con người mà im lặng như tờ. Tôi huých khuỷu tay vào Đỗ Đình Quỳ và nói nhỏ: “Không xong rồi, chuẩn bị tinh thần đi là vừa.” Quỳ gật đầu, tỏ ý hiểu lời tôi nói.

Chúng tôi được dẫn tới một căn gần sát với nơi bán đồ ăn cho sinh viên trước đây. Hai vợ chồng người bán hàng là nhân viên cũ của trường. Hai ông bà vẫn tiếp tục ở lại trong trường, và bây giờ bán vài ba món như cà phê, mì gói, và thuốc lá cho chúng tôi. Hai ông bà tỏ ra rất sợ sệt và dường như lo lắng cho tương lai của chúng tôi vì họ đã chứng kiến những chuyến xe chở sĩ quan cấp tá ra đi vào ban đêm. Bà chủ quán lợi dụng lúc vắng người, nói nhỏ cho tôi biết rằng trước đây đã có nhiều chuyến xe chở “các ông” (chắc là sĩ quan cấp tá , tôi nghĩ) đi ban đêm mà chẳng biết đi đâu.

Đêm đầu tiên chúng tôi, năm người, căng mùng nằm túm tụm với nhau trong một góc buồng. Thấy không khí có vẻ căng thẳng cho nên chúng tôi chẳng ai nói chuyện với ai, mỗi người trở về với suy nghĩ riêng tư của mình. Nằm trằn trọc mãi mà tôi chưa ngủ được; đó đây thỉnh thoảng lại có tiếng thở dài. Chắc hẳn hầu hết đều có chung một nỗi băn khoăn, lo lắng như tôi: Có đúng là “học tập 10 ngày” không đây? Rồi tôi tự trả lời mình, rằng một tương lai đen tối đang chờ trước mặt. Nếu vậy thì đời mình tàn rồi! Bây giờ tôi mới thấy là đã dại dột, không nghe lời mẹ tôi hối thúc, rằng phải lo mà trốn đi. Nếu nghe lời mẹ tôi mà tìm đường trốn thì biết đâu giờ này tôi đang ở một trạm tiếp cư nào đó ngoài nước Việt Nam rồi. Tôi không tìm cách trốn vì nghĩ đến mẹ già và vợ con; mình không thể đang tâm mà đi một mình được. Những ngày cuối tháng Tư, tôi không phải hành quân hoặc trú đóng xa nhà, việc đi lại của tôi được tự do, nếu muốn thì tôi có thể lo cho bản thân của mình được. Còn việc đưa cả gia đình đi thì ngoài khả năng của tôi. Tôi nghĩ, thà chết cả nhà còn hơn là chỉ lo thoát thân cho riêng mình. Bây giờ nghĩ lại mới thấy là mình đã phạm một sai lầm quá lớn, đã không được ở gần gia đình mà còn mang thân tù tội. Thậm chí mẹ tôi chết tôi cũng không được về đưa xác mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng! Đúng là “Không có cái dại nào giống cái dại nào!”

Tôi thường tự phụ rằng tôi là dân Bắc Kỳ di cư 1954, tôi hiểu Việt Cộng hơn những người bạn Miền Nam của tôi. Chữ “Việt Cộng” tôi dùng với nghĩa rộng, tức là Cộng Sản Việt Nam nói chung, chứ không phải với nghĩa hẹp như truyền thông ngoại quốc thường dùng để chỉ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, phân biệt với Cộng Sản Miền Bắc Việt Nam.Tôi cũng thường tự phụ rằng tôi đã đọc qua một vài cuốn sách viết về Công Sản, mà coi thường những lời khuyến cáo của mẹ tôi - một bà già nhà quê, thất học. Bây giờ nằm đây, vắt tay lên trán suy nghĩ, tôi mới thấy rằng mẹ tôi hiểu Việt Cộng hơn tôi nhiều, qua linh cảm và kinh nghiệm sống của bà.

Tôi cố dỗ giấc ngủ để còn có sức cho ngày hôm sau. Cuối cùng thì tôi cũng ngủ được một giấc ngắn.

Buổi sáng thức dậy, tôi và các bạn nhìn nhau và nói với nhau bằng cái lắc đầu chán nản. Ngoại trừ anh Nguyễn K. S. (lớn tuổi nhất trong bọn) thì tỏ ra không có vẻ gì là lo lắng cả. Tôi nghĩ anh S. có bản lãnh hơn tụi tôi khi đối phó với những tình huống bất ngờ, và tôi thầm khâm phục anh. Sau này, khi biết rõ ngọn nguồn, tôi mới thấy rằng lòng khâm phục của tôi đã đặt không đúng chỗ. Cái anh chàng S. này kín miệng thật! Sau khi chúng tôi tới trại Long Giao được hơn một tháng, một buổi chiều sau giờ ăn cơm, anh S. tới gặp tôi và cho biết là “Ngày mai tôi được về, Thái có nhắn gì không?” Tôi chỉ nhờ S. cho gia đình tôi biết tôi vẫn bình yên, thế thôi. Tôi rất ngạc nhiên vì sao S. lại được về sớm thế? Không có lời giải đáp, mà chỉ đoán già đoán non cho tới khi tôi được tha (1984) thì mới biết rằng:

Trong thời gian S. làm Sĩ Quan Hành Quân (ban 3) tại Tiểu Khu Phước Tuy. Vợ con của S. sống trong trại gia binh của Tiểu Khu. Ông cậu của S. là một cán bộ Việt Cộng, được S. chứa chấp tại nhà mình trong trại gia binh để ông này hoạt động mà không ai có thể ngờ được. Chuyện S. có cung cấp tin tức hành quân của Tiểu Khu cho ông này hay không thì tôi không biết. Tuy nhiên, cứ lẽ thường mà suy, thì làm sao tránh khỏi. Vì có công hợp tác với Việt Cộng mà S. được về sớm. Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, S. mang cấp bậc đại úy, nhưng khi được thả về điạ phương, S. mang cấp bậc thiếu úy (?) của Việt Cộng và làm việc ở trên xã. Khi tôi được thả thì S. đã giải ngũ và làm trong ban “Thương Binh và Xã Hội” của xã sở tại.

Nhà của S. ở phía trong nhà tôi, dù đi làm hay đâu, S. bắt buộc phải đi qua nhà tôi. Vì thế chúng tôi thường hay gặp mặt nhau. S. tỏ ra ngượng ngập mỗi lần gặp tôi. Còn tôi, chỉ gật đầu chào lấy lệ; hết còn thân thiện như xưa nữa rồi. Làm sao mà tôi có thể chơi với một tên “ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản” như thế được chứ? Từ ngày có chính sách cho những người ở tù trên ba năm được đi Mỹ, S. lại càng tỏ ra mắc cở với bọn tôi. Khi bất chợt gặp nhau ở ngoài đường, S. chỉ gật đầu một cái rồi đi cho lẹ. Và, dĩ nhiên là S. tiếc rẻ vì không đủ điều kiện để ra đi như chúng tôi. Thôi, có làm có chịu S. ơi, “bạn” đã hơn bọn tôi là không chịu cảnh tù đầy khốn khổ, thì bây giờ “bạn” phải kém bọn tôi vì không được hưởng tự do hoàn toàn ở một đất nước văn minh nhất thế giới chứ. Câu thành ngữ “Trời cao có mắt” đem áp dụng cho trường hợp của “bạn” thì không sai được.

Anh Nguyễn Tiến Xuyên trong nhóm năm người đi trình diện, hiện ở Cali, mới đây (10/2008) nói với tôi: “Trông thấy S. hằng ngày ở trần, mặc quần xà lỏn, đạp xe đi lòng vòng trong ấp mà nản quá, chẳng giống con giáp nào cả!” Chắc hẳn hiện nay S. cũng vậy thôi, làm sao mà khá hơn được cơ chứ?


2.2. Chuyển về trại Long Giao

Chúng tôi ở Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ một ngày. Ngày hôm đó, cơm nước do nhà hàng Soái Kình Lâm ở Chợ Lớn đem tới. Cơm và đồ ăn tạm đủ, chỉ trừ vài ba người ăn khoẻ thì thấy hơi thiếu nhưng không ai dám kêu ca gì cả. Có người đứng sắp hàng sau tôi nói nhỏ: “Chà, Cách Mạng chơi sang quá ta! Đãi chúng mình cơm Tầu nữa chứ.” Nghe vậy nhưng tôi vẫn không quay lại và cũng không muốn góp chuyện vì sợ bị vạ miệng; tốt hơn hết là càng ít nói càng tốt.

Khoảng 7 giờ tối, chúng tôi đươc lệnh tập họp và mang theo hết đồ đạc cá nhân. Một tên Việt Cộng (chắc là sĩ quan nhưng không mang cấp bậc) ra sân điểm danh và chia từng toán 25 người. Nhóm năm người chúng tôi đứng nối đuôi nhau để hy vọng là sẽ cùng ở một chỗ với nhau. Ai dè, nó cứ đếm 25 người là tách ra thành một nhóm, vì vậy tôi bị tách ra khỏi bốn người kia, và từ đó, tôi không được ở chung với những người bạn cùng xóm nữa.

Khoảng chín giờ đêm, một đoàn xe Molotova (loai xe truck của Liên Xô) vào sân. Chúng tôi, 25 người lên một xe, chật cứng. Khi đã đủ, xe được kéo mui xuống, phủ kín, ở trong không thể nhìn ra ngoài được. Chúng tôi cảm thấy ngộp thở vì không đủ không khí. Đến khi xe bắt đầu lăn bánh, nhờ có gió lùa qua mấy kẽ hở mà chúng tôi mới thấy đỡ ngộp được phần nào. Xe chạy một lúc thì chúng tôi ít nghe tiếng động bên ngoài, chúng tôi đoán là xe đã ra khỏi thành phố nhưng không biết đi đâu. Đến tờ mờ sáng hôm sau, xe chạy chậm dần và ngừng lại. Mui xe được kéo lên và chúng tôi được lệnh xuống xe. Vài người, trước đây đã từng phục vụ ở Sư Đoàn 18 Bộ Binh, nhận ra ngay đây là khu trại gia binh của Sư Đoàn 18, gọi là Long Giao thuộc tỉnh Long Khánh.


2.3. Ổn định chỗ ở

Cứ 4 xe (100 người) được chỉ định vào một dãy nhà gia binh mà Việt Cộng gọi là lán (*). Tôi ở Lán 2 ( còn gọi là Đội 2) do anh (Mai văn ?) Ca, đại úy Pháo Binh, làm lán trưởng. Anh Ca thuộc lớp sĩ quan già, khi đó anh cũng đã hơn bốn mươi. Anh người miền Nam, tính tình hiền hoà dễ mến. Đây chỉ là nhận xét lúc ban đầu, khi còn ở Long Giao với nhau. Sau này tôi không biết anh đi đâu, và cũng chẳng biết anh có còn giữ được phong cách cũ, hay là đã bị biến chất vì hoàn cảnh đẩy đưa. Năm 2006, tôi về Oakland, Cali chơi mấy tháng và được một người bạn cùng xóm cho tôi số điện thọai của anh Ca, dường như anh ở San Jose thì phải. Tôi gọi cho anh nhưng anh không nhận ra tôi. Tôi phải nhắc anh nhớ lại một vài sự kiện đặc biệt như chuyện tôi đánh lộn với anh Thiệp nên bị nhốt vào “conex” (quân đội Mỹ dùng để chứa hàng tiếp liệu, container) hai ngày. Dần dần rồi anh mới nhớ ra tôi và nói: “À, Thái Pháo Binh, tôi nhớ ra rồi.” Anh Ca bây giờ đã lớn tuổi, giọng nói không còn mạnh như xưa nữa rồi. Anh có mời tôi ghé chơi, nhưng ngày hôm sau tôi phải trở về Texas cho nên không thể tới thăm anh được.

(*) Lán = nhà nhỏ làm bằng tre lá trong rừng. Việt Cộng dùng chữ “lán” để chỉ một căn nhà tập thể cho nhiều người ở chung, tương tự như chữ “barrack” của Mỹ. Lán thường xây cất bằng vật liệu nhẹ vì nó không có mục đích sử dụng lâu dài. Kích thước của lán cũng thay đổi tùy theo tình hình. Thường thường, lán có kích thước là 5 mét x 20 mét ( 16 ft x 66 ft).


Mỗi gian nhà, trước đây dành cho một cặp vợ chồng binh sĩ, bây giờ là chỗ ở của một tổ - 11 người. Tổ tôi gồm có các anh Hải (bác sĩ), Yên, Bình, Liên, Hưng, Thiệp, Truyện, Oánh, Tê, Đào Ngọc Tỉnh, và tôi - Nguyễn Văn Thái.

Sở dĩ đến nay tôi còn nhớ được đủ tên của 10 người kia là nhờ có câu thiệu (**)

(**) Thiệu = bài học thuộc lòng để cho các võ sinh nhớ các thế võ trong một bài võ mà luyện tập cho có thứ tự, lớp lang.

Câu thiệu này do anh Tê nghĩ ra, anh nói:

- Này Thái, tôi vừa nghĩ được một câu thiệu, gồm đủ tên 11 người của tổ mình, để mai sau mình chỉ cần đọc cậu thiệu này là nhớ được tên của mọi người trong tổ.
- Anh thử đọc lên xem nào.
- Này nhé, “Liên tỉnh Thái Bình – Hưng Yên hãi (Hải) truyện Thiệp Oánh (đánh) Tê”.

Anh giải thích thêm:

- Tên của bác sĩ Hải được đổi thành Hãi - dấu ngã - bởi vì đa số dân Trung và Nam thường lẫn lộn dấu hỏi và dấu ngã. Tên anh Oánh, có nghĩa là đánh vì người Nam phát âm chữ đánh thành ra oánh.
- Như vậy có lý đấy, anh nên phổ biến cho mọi người biết.
- Dĩ nhiên rồi.

Tôi chẳng biết có ai trong tổ tôi còn nhớ câu thiệu này không. Riêng tôi thì không thể quên được. Nhất là câu thiệu này lại trở thành một câu “tiên tri”, nói trước về vụ đánh lộn giữa tôi và anh Thiệp: “…Thiệp oánh Tê.” Mà tê là phát âm của chữ T, là vần đầu của tên tôi (Thái). Chuyện đánh lộn sẽ nói sau. Bây giờ trở lại việc ổn định chỗ ở.

Gian nhà trong trại gia binh có bề ngang 3 mét (10 ft), chiều sâu 6 mét ( 20 ft, từ vách tường đằng trước tới vách tường phía sau). Sáu mét chia đều cho 11 người, thì mỗi người được 55 cm (22 inches). Chia xong chỗ nằm, chúng tôi đi tới những nhà bỏ hoang, những bãi rác để nhặt nhạnh bất cứ cái gì có thể ghép thành cái sạp ngủ cho mình. Tôi phát giác ra những thùng gỗ đựng đạn pháo binh 105 ly mà trước đây Sư Đoàn 18 Bộ Binh dùng để chứa đất/cát trong các vọng gác hoặc vị trí chiến đấu. Tôi và anh Đào Ngọc Tỉnh kéo những thùng gỗ đó ra, đổ đất ra, rồi đem về làm sạp ngũ cho hai người. Hai chúng tôi, nhờ vậy mà có được cái sạp ngủ tương đối bằng phẳng, đỡ bị đau lưng. Những người khác thì gặp thứ gì lấy thứ đó; người thì cái cánh cửa, người thì miếng ván ép. Cuối cùng thì tổ tôi cũng xong được chỗ nằm ngay đêm đầu tiên.

Anh Đào Ngọc Tỉnh và tôi nằm sát nhau. Anh nằm sát vách phía trong (gần nhà bếp), kế đến là tôi. Hai chúng tôi chọn nằm gần nhau là vì cùng binh chủng Pháo binh. Ngày tôi ra trường Pháo binh, học khóa Pháo binh Trung Cấp (Pháo Đội Trưởng), thì anh Tỉnh dạy chúng tôi môn Địa Hình (Đo đạc và tính toán tọa độ các vị trí đặt súng, vị trí mục tiêu…).Anh Tỉnh gia nhập quân đội từ ngày còn ở ngoài Bắc. Anh lớn tuổi hơn tôi nhiều, nhưng cấp bậc chỉ là đại úy vì mãi sau này anh mới đi học khóa sĩ quan. Anh đã từng ở tù Việt Cộng ở ngoài Bắc cho nên anh có khá nhiều kinh nghiệm sống của một người tù. Anh dạy tôi cách cắt tóc bằng kéo, cách đan rổ rá bằng tre hay nứa, cách bện dây thừng bằng những sợi chỉ bao gao hoặc bao cát, và cách nấu cơm bằng chảo gang lớn, v.v…Nhờ những tài vặt đó mà tôi đỡ vất vả phần nào.

Anh rất đầm tính và coi tôi như một người em. Đôi lần, tôi bực với anh, không thèm nói chuyện với anh nhưng chỉ được vài ngày là anh lại kiếm cách gợi chuyện với tôi, rồi hai người vui vẻ trở lại.

Bọn tôi người nào cũng mong cho hết “mười ngày học tập”; người thì thăm dò xem gạo nhà bếp còn ăn được bao lâu để từ đó suy ra ngày về; người thì nhìn vào đống củi mà bọn bộ đội chở tới, rồi thắc mắc “Chỉ 10 ngày thôi, mà sao nó chở tới nhiều củi thế?” Tóm lại, mỗi người đều tìm ra một cái chỉ dấu nào đó, để từ đấy đoán ra ngày về. Trong khi đó thì anh Tỉnh lẳng lặng đi kiếm mấy giây rau lang (khoai lang) đem về, và cuốc đất ở phía sau nhà bếp (khoảng cách phiá sau giữa hai dãy nhà) để trồng lang. Tôi hỏi:

- Bộ ông muốn ở đây trường kỳ chắc?

Anh nhìn tôi với ánh mắt có vẻ thương hại cho cái khờ của tôi và nói:

- Rồi sẽ biết, ở đấy mà tin “mười ngày”. Khoai lang tớ trồng có củ rồi cũng chưa chắc đã được về đâu. Đừng có ham! Hãy gìn giữ sức khỏe.

Nghe anh nói vậy, tôi thấy thật nản! Tuy nhiên vẫn còn cố tự biện minh để đánh lừa mình rằng Việt Cộng ngày xưa ở Miền Bắc khác. Bây giờ cả nước thống nhất rồi, lẽ nào nó vẫn vậy. Thời gian cứ dần trôi, và càng ngày tôi càng thấy anh Tỉnh có lý.

Đôi khi vui chuyện, tôi hỏi anh Tỉmh:

- Bà xã ông chết mấy năm rồi, sao ông không kiếm bà khác để “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”? Bộ ông chán “cái sự đời” rồi à?

Anh Tỉnh nhìn tôi, cười tủm tỉm, không trả lời thẳng câu hỏi của tôi, mà đọc lên một đôi câu đối như sau:
Già năm mươi tuổi, chưa đeo kính,(*)
Thức suốt năm canh, chỉ sợ gà.

(*) Giải thích riêng cho các bạn trẻ kém tiếng Việt:
Đeo kính; nói lái theo kiểu Bắc Kỳ, có nghĩa là sợ làm tình.
Sợ gà; nói lá theo lối Bắc Kỳ, là gạ sờ.
Năm canh = năm canh giờ; một đêm có 5 canh giờ, mỗi canh giờ bằng hai giờ thời nay (120 phút); ý nói là cả đêm.

Nhân lúc cao hứng, anh lại đố tiếp:

- Tớ đố Thái, trong truyện Kiều, câu nào nói rằng nàng Kiều có bầu?
- Chà! Khó quá! Hồi còn đi học, tôi chỉ chuyên về môn toán. Còn về thơ văn thì tôi bết lắm. Thôi, đàn anh giảng cho nghe đi.
- Này nhé:
…Thất kinh nàng chửa biết là làm sao,
Thuốc mê đâu đã rước vào,
Mơ màng một giấc chiêm bao biết gì…

Tôi phản đối:

- Ý cụ Nguyễn Du chỉ muốn nói là nàng Kiều hoảng hốt (thất kinh) cho nên không (chửa) biết phải làm gì; chứ đâu có ý nói là nàng bị mất (thất) kinh - điềm báo là nàng có bầu (chửa).
- Ai chả biết vậy, nhưng đây là câu đố giải trí mà. Tụi ngoại quốc học tiếng Việt, gặp phải những câu như thế này, chắc cũng phải nhức đầu đấy.
- Chả cần phải là người ngoại quốc, mà ngay cả người Việt, đã có ai dám tự hào là giỏi tiếng Việt chưa? Nếu nói có, là nói phét. Bây giờ tôi hỏi anh nhé; Tại sao người ta lại dùng mạo từ “con” cho con sông, con dao; mạo từ “cái” cho cái hồ, cái thớt?

Anh Tỉnh suy nghĩ một hồi rồi lắc đầu chịu thua:

- Tớ chịu thua rồi, Thái nói ra xem nào.

- Anh chịu thua rồi nhé, như vậy tỉ số là một đều nghe chưa đàn anh? Tiếng Việt có những qui tắc bất thành văn; chẳng hạn như cách dùng mạo từ “con” và “cái” mà tôi vừa nêu ra. Luật chung là, cái gì nhúc nhích, động đậy được thì dùng mạo từ “con”; cái gì không động đậy, nhúch nhích thì dùng mạo từ “cái”. Nước sông luôn luôn chảy, cho nên gọi nó là con sông. Nước hồ ở tình trạng tĩnh (inactive), không chảy đi đâu cả cho nên được gọi là cái hồ. Cũng vậy, dao luôn xê dịch theo động tác của người sử dụng nó, nên được gọi là con dao. Trái lại, thớt chỉ nằm dưới để chịu trận cho nên mới gọi là cái thớt. Xin anh nhớ một điều là luật nào thì cũng có luật trừ để áp dụng trong vài trường hợp đặc biệt; thí dụ như “cái xe” nó chạy tới chạy lui nhưng không gọi là “con xe” mà là cái xe.

- À thì ra thế; bây giờ tớ mới hiểu tại sao cái ấy của đàn ông thì gọi là con c…; còn cái ấy của phái nữ thì gọi là cái l…

Cả hai chúng tôi cùng cười và chấm dứt mục tán dóc ở đây.

Anh Tỉnh và tôi ở cùng tổ vói nhau suốt một năm ở Long Giao. Khi ra Bắc, chúng tôi ở cùng trại (Trại 5 - Hồ Thác Bà, Hoàng Liên Sơn) nhưng khác đội. Tôị ở Đội 3, đội hắc ám nhất; còn anh ở Đội 5, không phải đi chặt nứa, cho nên đỡ khổ hơn. Dù ở hai đội khác nhau nhưng đã có lần, hai chúng tôi cùng làm việc chung với nhau khoảng mười ngày. Chả là, trại muốn đan mấy cái nong để phơi thóc lúa. Cái nong có hình dạng như một cái đĩa phẳng, đường kính chừng 1 mét rưỡi (5 ft). Đan nong thì cần phải có hai người. Do đó anh Tỉnh đề nghị với trại biệt phái tôi sang làm thợ vịn cho anh.

Từ sau khi chuyển trại về Vĩnh Quang B, tỉnh Vĩnh Phú, tôi không biết anh đi đâu. Sau này khi được thả, tôi hỏi thăm thì biết anh được về trước tôi và đã chết bệnh mấy tháng trước rồi. Biết anh chết, tôi thấy buồn vô tả! Thế là mình đã mất một vị đàn anh đáng mến rồi! Anh Tỉnh ơi! Tôi tin rằng, ở dưới suối vàng, anh hiểu được tôi đang nghĩ đến anh. Và, tôi xin dùng những dòng chữ này làm nén hương lòng, để tỏ sự kính mến của tôi đối với anh, anh nhé.


2.4. Ăn gạo mục

Một năm ở Long Giao, chúng tôi chưa phải ăn cơm độn, vẫn ăn gạo 100%. Tuy nhiên mấy tháng đầu, chúng tôi phải ăn gạo mục. Đây là số gạo tồn kho ở trong các chiến khu và ở các kho dọc đường mòn Hồ Chí Minh để nuôi quân. Bây giờ Việt Cộng chiếm trọn miền Nam, chúng có điều kiện được ăn gạo tốt. Do đó số gạo tồn kho trong rừng đuợc chở ra cho các trại tù tiêu thụ. Số gạo này, vì điều kiện tồn trữ không đúng, hầu hết là bị mốc hoặc bị mục. Tôi phải chứng kiến cái cảnh gạo mốc, gạo mục hằng ngày vì tôi là chuyên viên nấu ăn cho đội. Theo qui định của đội thì mỗi tổ (11 người) phải luân phiên làm bếp một tuần lễ. Duy có người nấu đồ ăn (là tôi) thì không có luân phiên. Như vậy tổ nhà bếp kể cả tôi là 12 người. Chừng vài tháng sau, khi một số anh em đã biết nấu đồ ăn (không phải là nấu cơm), tôi được trả về sinh hoạt bình thường với tổ của tôi.

Gạo mốc thường dính chùm năm ba hạt với nhau có mầu xanh xanh; gạo mục cũng dính chùm với nhau và thường có một vài con sâu nằm ở giữa chùm gạo đó. Xin nói rõ là, sâu chứ không phải mọt. Con sâu gạo có hình thù như con giòi trong đống phân nhưng kích thước nhỏ hơn. Trong gạo cũng có mọt, nhưng ít hơn là sâu. Khi đổ gạo từ trong bao (trăm kg /220 pounds) ra chảo để vo, gạo chưa mục thì chìm dưới nước; gạo mục thì nổi trên mặt nước. Nếu vớt bỏ gạo mục ra, thì còn gì nữa để nấu cơm. Chúng tôi phải lấy tay vò vò cho mấy cục gạo rời ra, chờ một lúc cho gạo lắng xuống, rồi nhẹ nhàng vớt mấy cái váng/bọt/sâu ra ngoài, gạn hết nước đục ra, và đổ nước mới vào chảo để nấu cơm. Vì thế, trong cơm thường lẫn những con sâu nhưng không sao, ăn vào cũng “chẳng chết thằng Tây nào” cả.

Ăn loại gạo này chừng vài tháng là thấy đã có một số anh em bị phù thũng rồi. Một số người có mang theo vi-ta-min B1 hoặc vi-ta-min tổng hợp thì thoát được hoặc bớt được phù thũng. Những người không có thuốc thì chịu trận thôi. Thỉnh thoảng, trại mua bí đỏ (bí ngô) về cho nhà bếp. Lúc đầu nhà bếp còn gọt vỏ trước khi nấu; về sau chẳng cần gọt vỏ làm gì cho tốn công; cứ để cả vỏ, xắt lát ra nấu luôn. Làm như thế là để tận dụng lượng vi-ta-min B1 trong quả bí.

Những người có vóc dáng to lớn là những người mau bị sụm (sụp đổ) nhất. Thân thể to lớn mà ăn vài chén cơm gạo mục mỗi bữa thì xuống sức nhanh lắm.Tôi có tầm vóc xương xương, nhỏ con, cho nên tránh được bệnh phù thũng này. Nhỏ con và ăn ít, trong lúc này, là hạnh phúc lắm đấy vì ít bị dày vò bởi cái đói.

2.5. Khai báo lý lịch

Sau khi chỗ ở đã ổn định, chúng tôi bắt đầu cho việc khai báo lý lịch. Giấy, bút và mực do trại cung cấp. Giấy là loại giấy tái chế, vàng khè. Mực là những viên mực nhỏ cỡ bằng hạt đậu xanh, phải ngâm với nước và để một vài tiếng cho mực tan ra hết thì mới dùng được. Ngòi bút bằng kẽm, có hình giống như chiếc lá tre. Nhìn những thứ văn phòng phẩm này, tôi liên tưởng đến những ngày ở ngoài Bắc, khi tôi còn “mặc quần thủng đít” đi học. Than ơi! “Đánh thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay” là như thế này đây! Đang từ giấy viết trắng tinh trở thành giấy tái chế vàng khè. Đang là bút máy Parker, bút bi hiệu Bic, bây giờ chuyển sang mực tím pha nước để viết bằng ngòi bút sắt.

Tờ khai lý lịch đòi hỏi chúng tôi phải khai rất là chi tiết. Về bản thân, phải khai tất cả mọi hoạt động từ năm 1945. Những ai lớn tuổi thì phải khai việc làm của mình từ lúc có trí khôn (cỡ bẩy, tám tuổi). Về họ hàng, phải khai ba đời (bản thân, cha mẹ, và ông bà), cả bên nội và bên ngoại.

Ví dụ như tôi, tôi phải khai về bố mẹ, ông bà nội và ngoại; tôi phải khai các anh chị em ruột. Tôi cũng phải khai về vợ và họ hàng của vợ như vậy.

Chúng tôi đươc một tuần lễ để ngồi khai lý lịch. Người nào người nấy mệt đừ vì phải vận dụng trí nhớ của mình. Tôi cũng mệt chẳng kém gì ai. Tôi nghĩ có hai việc phải làm là trước hết mình phải khai sao cho đơn giản bằng cách dùng hai chữ “không nhớ”. Thứ đến là phải lén làm một bản sao và dấu kỹ để dùng cho những lần khai kế tiếp; làm như vậy có hai cái lợi, một là lần sau khỏi phải suy nghĩ nhức đầu, cứ lấy bản sao ra chép lại; hai là bản khai sau này sẽ phù hợp với bản khai trước. Việc phòng xa của tôi không vô ích vì chỉ mấy ngày sau khi nộp tờ khai lý lịch, chúng tôi được tập họp trên hội trường. Tên trại trưởng tuyên bố là “Các anh chưa thành thật khai báo, các anh phải về viết lại lý lịch của các anh.” Đa số nghe thấy khai lý lịch lại thì méo mặt, lại mất thêm một tuần lễ đau đầu nữa. Riêng tôi thì “khỏe re con bò kéo xe.” Tôi chỉ việc kín đáo lấy bản sao ra, rồi ghi lại là xong.

Bọn chúng bắt khai đi, khai lại nhiều lần để chúng so sánh xem những lần khai có giống nhau không, và từ đó chúng tìm ra ra sự gian dối của tù nhân. Thêm vào đó, chúng còn dùng “cò mồi” (decoy-duck/stool-pegeon), thường thường mỗi lán một con “cò mồi”. Trong lúc chúng tôi đang cặm cụi viết, chúng cho người gọi một con “cò mồi” lên văn phòng trại “làm việc”. Chừng vài giờ sau chúng cho “cò mồi” trở lại lán và giả vờ sợ sệt, rồi rỉ tai cho một vài người, rằng “Chẳng dấu được Cách Mạng cái gì cả, họ biết hết, tôi không khai báo có một sự kiện xảy ra ở đơn vị của tôi mà họ biết ngay, họ gọi tôi lên văn phòng để lưu ý tôi phải khai cho đủ.” Nhiều người yếu bóng vía sau khi nghe tin này, không dám giấu giếm gì nữa.

Chuyện khai lý lịch diễn ra rất thường trong những tháng đầu ở tù. Mỗi lần khai lý lịch, tôi lại bỏ bớt đi một vài chi tiết để cho những lần khai sau đơn giản hơn. Tôi đã dự trù sẵn một câu trả lời nếu chúng phát hiện ra tôi khai không đúng với lần trước. Câu trả lời đó là “Trí nhớ của tôi mỗi ngày mỗi kém, vì thế tôi đã quên không khai điều đó. Bây giờ được cán bộ nhắc nhở thì tôi xin khai thêm vào cho giống lần trước.” Rất may là tôi chưa phải dùng đến câu trả lời này bao giờ.


2.6. Thảo luận tổ

Mấy tháng đầu, chúng tôi phải trải qua những buổi tối (đôi khi cả ban ngày) thảo luận tổ. Thảo luận tổ có nghĩa là ngồi quây thành vòng tròn trong phòng của mình, lần lượt mỗi người phải kể tội của mình đối với “Cách Mạng”. Đồng thời cũng phải cho nhận xét và phê bình những người đã phát biểu trước mình, xem họ có thành thật khai báo tội lỗi hay còn giấu giếm điều gì nữa. Nếu nói là mình vô tội sẽ bị tên quản giáo cảnh cáo ngay. Hắn nhấn mạnh:

“Các anh người nào cũng có tội với nhân dân và Cách Mạng. Anh là bác sĩ, bảo là vô tôi vì không tham dự bắn giết Cách Mạng hả? Anh chăm sóc, chữa lành bệnh, lành vết thương để cho lính ngụy mau xuất viện, trở lại đánh phá Cách Mạng, đó không phải là tội à? Anh là Tuyên Úy Công Giáo/Phật Giáo mà bảo là vô tội vì chỉ giúp lính ngụy về phần tinh thần, anh không cầm súng bắn lại Cách Mạng là không có tội hả? Lính ngụy chiến đấu hăng say, gây nhiều thiệt hại cho quân đội nhân dân, chính là vì tinh thần chúng cao; mà tinh thần chiến đấu của chúng cao là vì tuyên úy các anh đấy. Anh bảo anh vô tội vì là ngành Quân Nhu, chỉ biết cung cấp áo quần cho lính ngụy, không cầm súng bắn quân đội nhân dân là không có tội hả? Có đấy, tội của anh là tội đã giúp cho bọn lính chiến đấu của ngụy được ấm áp; mà sự ấm áp làm cho binh lính ngụy được khỏe mạnh trong lúc chiến đấu, gây thêm khó khăn cho Quân Đội Nhân Dân. Đó, tội ở đó chứ còn ở đâu nữa? Tóm lại, tất cả các anh, người nào cũng có tội, có nợ máu với nhân dân.”

Nghe hắn nói, chúng tôi bấm chân nhau ngụ ý rằng “no medicine” - hết thuốc chữa! Thôi thì cứ phải cố gắng nghĩ ra một vài tội gì để cho nó không hạch hỏi gì thêm, tránh được phiền phức. Riêng tôi, trong những lúc tâm sự với anh Đào Ngọc Tỉnh, tôi đã hiểu ra rằng “Ngày về xa lắm người ơì!” cho dù mình có khai báo thế nào đi nữa..

Vả lại, bọn Việt Cộng là kẻ “thắng trận” (có đánh đâu mà thắng, chúng tôi rút đi/buông súng theo lệnh, trước khi bọn chúng tới cơ mà). Vì thế tôi mới dùng ngoặc kép cho chữ thắng trận. Một sự thắng trận không vinh quang. Chúng “thắng trận” vì các nước lớn sắp xếp để cho chúng thắng trận.

Ấy vậy mà chúng cứ dương dương tự đắc là kẻ thắng trận. Từ đó, chúng nói thánh nói tướng, một tấc lên tới trời, nghe mà giận tím gan. Tôi nghĩ thầm, đằng nào mình cũng ở tù mút chỉ rồi, sợ gì mà không nói cho nó biết rằng ta đây đâu có hèn như bọn bay tưởng. Cho nên đến lượt tôi, tôi kể tội của mình như sau:

“Trong hơn mười năm quân vụ của tôi, tôi đã tham dự vào việc chống phá Cách Mạng một cách tích cực. Bằng chứng là, không kể các loại huy chương khác, mà chỉ kể Anh Dũng Bội Tinh thôi (một loại huy chương dành cho chiến công ngoài mặt trận), tôi được trao thưởng 6 cái tất cả, gồm 1 Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng (*), 1 ADBT với Ngôi Sao Bạc, và 4 ADBT với Ngôi Sao Đồng. Một trận mới nhất, xảy ra vào tháng 2/1975, khi đó tôi đang ở với một trung đội Pháo binh (hai khẩu 105 ly) tại Đồng Gò, nằm trên đường đi từ tỉnh lỵ Bến Tre (Kiến Hoà) đến quận Giồng Trôm. Một hôm, vào khỏang nửa đêm, toán Nghĩa Quân đi phục kích cách chỗ tôi chừng hơn một cây số (1 mile), phát hiện ra có khoảng ba bốn trăm quân Cách Mạng đi ngang họ, ở ngoài đồng trống. Họ chỉ có một tiểu đội chừng mười người cho nên phải nằm im không dám nhúch nhích, rồi gọi máy về báo cho trung đội Pháo binh của tôi và xin tác xạ. Thời gian này, lệnh của Tiểu Khu Kiến Hoà cho phép mỗi khẩu đại bác chỉ được bắn 1 quả đạn/một ngày. Như vậy, trung đội Pháo binh của tôi chỉ bắn được hai quả. Mà, bắn hai quả thì giống như là gãi ngứa, chứ ích lợi gì. Người Trung Đội trưởng hỏi tôi để xin quyết định. Tôi hỏi trong kho có còn đạn thặng dư (không có ghi trong sổ báo cáo đạn dược) không. Rất may là kho còn khoảng năm chục quả đạn dư, tôi quyết định cho bắn nhưng căn dặn 'ngày mai' chỉ báo cáo tiêu thụ hai quả thôi. Sau vài quả đầu điều chỉnh, toán nghĩa quân báo là trúng mục tiêu rồi, tôi cho bắn thêm 20 quả nữa. Sáng hôm sau, dân trong ấp cho biết rằng hồi đêm, bộ đội Cách Mạng vào ấp, trưng dụng mấy chục chiếc xe bò để chở xác chết. Như vậy là tôi đã phạm tội nặng với Cách Mạng. Ấy vậy mà giờ đây tôi vẫn được Cách Mạng khoan hồng, cho tôi học tập cải tạo để trở thành một công dân tốt trong một xã hội mới.”

Lời phát biểu của tôi đạt yêu cầu của tên quản giáo; hắn không nói gì và chỉ định người kế tiếp phát biểu.

Từ đó về sau, mỗi lần phải khai lại lý lịch và tội trạng, tôi đều viết với một nội dung giống như tôi vừa kể trên đây.

(*) Thẩm quyền ban tặng huy chương như sau:
- Tư Lệnh Lữ Đoàn có quyền ban tặng ADBT với ngôi sao đồng.
- Tư Lệnh Sư Đoàn có quyền ban tặng ADBT với ngôi sao bạc.
- Tư Lệnh Quân Đoàn có quyền ban tặng ADBT với ngôi sao vàng.


Thực ra thì, lời khai công – báo tội của chúng tôi cũng có một phần ảnh hưởng đến thời hạn giam giữ chúng tôi. Bằng chứng là các bạn tôi, trong nhóm năm người cùng đi trình diện, như anh Phùng Bá Vi có cùng cấp bậc với tôi, và có gần 15 năm quân vụ, thuộc ngành Quân Vận, đã được thả trước tôi gần hai năm. Kế đến là anh Nguyễn Tiến Xuyên, có 13 năm quân vụ, là Quan Sát Viên phi cơ L.19, ngành Bộ binh, cũng được thả trước tôi hai năm. Rồi đến anh Đỗ Đình Quì, cùng khoá với tôi nhưng không gián đoạn quân vụ như tôi, anh có 12 năm quân vụ, cũng được về trước tôi hai năm. Do đó, tôi bị giam giữ lâu hơn các bạn tôi là do tôi đã khai ra nhiều chiến công mà tôi lập được cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy được thả sau các bạn tôi, tôi vẫn không cảm thấy gì là hối tiếc vì đã khai báo đầy đủ các chiến tích của mình. Ở một khía cạnh nào đó, người ta có thể nói là tôi dại dột, không biết che dấu những việc làm của mình. Riêng tôi thì nghĩ rằng, tôi đã có cơ hội nói cho bọn Việt Cộng biết rằng tôi không hèn, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không hèn như chúng tưởng. Chúng tôi chỉ bị thất thế mà thôi. Cái gì cũng phải có cái giá của nó; nói lên được điều đó mà phải trả giá bằng hai năm tù (lâu hơn các bạn tôi) thì cũng chẳng lấy gì làm ân hận. Ai bảo tôi rằng làm như vậy là “ngu”, thì tôi cũng vui vẻ chấp nhận cái “ngu” này.

“Thảo luận tổ” đôi khi cũng còn được dùng để nhận xét và phê bình một cuốn phim mà bọn Việt Cộng vừa chiếu cho chúng tôi xem. Phim của Việt Cộng toàn là loại phim tuyên truyền rẻ tiền, chẳng có một chút gì gọi là nghệ thuật cả. Tôi còn nhớ được tên vài cuốn phim như Trẻ Mãi Không Già, Mùa Gió Chướng, và Đứa Con Đất Củ Chi; nhưng tôi không nhớ nổi truyện phim. Tôi còn nhớ một điều là có hai tài tử Miền Nam đóng vai chính trong phim Đứa Con Đất Củ Chi; đó là Nguyễn Chánh Tín và Thiên Trang.

Còn một cuốn phim nữa mà tôi quên tên nhưng lại nhớ có một nhân vật đóng vai trung úy (?) Cảnh Sát của Miền Nam thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trong khi mỗi người phải nói lên nhận xét và suy nghĩ của mình sau khi xem phim này (dĩ nhiên là Việt Cộng chỉ muốn được khen), tôi đã nghĩ ra được một cớ để không phải khen cuốn phim cà chớn đó. Tới lượt tôi phát biểu, tôi nói rằng: “Nhân vật đóng vai trung úy (?) Cảnh Sát đã đeo lon không đúng với thời điểm của truyện phim. Thời ông Ngô Đình Diệm, sĩ quan Cảnh Sát chưa đeo lon với hình hoa mai. Nếu tôi nhớ không lầm thì, sau năm 1965, lon Cảnh Sát mới có hình hoa mai mà thôi. Đây là một sơ xuất nhỏ nhưng nếu người đạo diễn lưu ý một chút thì cuốn phim hay hơn.” Tên quản giáo không bắt bẻ gì được, cho qua luôn.


2.7. Mười bài học chính trị

Sau vài lần khai lý lịch, chúng tôi bắt đầu chương trình học tập 10 bài chính trị. Thời hạn “10 ngày cải tạo đã qua” mà ngày về chưa thấy ló dạng. Bây giờ chúng tôi lại bấu víu vào thời gian học 10 bài chính trị. Trung bình mỗi bài phải kéo dài 1 tuần lễ. Như vậy 10 bài hết 10 tuần lễ. Từ đó chúng tôi hy vọng rằng xong 10 bài thì sẽ được về, và chúng tôi chờ, mong sao cho mười bài học chóng qua để được về với gia đình.

Ngoài ra, cũng có người vẫn theo dõi số lượng gạo chở tới nhà bếp để dựa vào đó mà suy đoán ngày được về của mình. Khi đã học được 9 bài rồi, mà lại thấy mấy xe gạo chở tới kho nhà bếp thì bọn tôi bắt đầu hoang mang, tự hỏi rằng “Chỉ còn có một bài nữa thôi, mà tại sao lại chở tới nhiều gạo như vậy?” Câu hỏi không có lời giải đáp. Mọi người nhìn nhau ngao ngán. Anh Tỉnh bảo tôi:

- Đây mới chỉ là trang đầu thôi, quyển sách này còn nhiều trang lắm, họ lật tới trang nào thì mình biết trang đó thôi.
Tôi bực mình hỏi lại anh:

- Ông đã “rành sáu câu” (biết rõ) như vậy, tại sao không doọc (vọt) sớm, mà phải ở lại chịu trận?
- Số phần cả, “Bởi số, chạy sao cho khỏi số”, không nhớ sao?
- Không lẽ tất cả sĩ quan QL/VNCH đang ở đây đều có số giống nhau à?
- Cái này nó liên quan tới tử vi, lý số; hôm nào rảnh, tớ sẽ giải thích cho; thôi lo làm bài thu hoạch đi.


2.8. “Quân đội và nhân dân ta anh hùng.”

Tôi chỉ còn nhớ một bài có tên là “Đế quốc Mỹ là kẻ thù số 1 của nhân ta.” Trong lúc giảng bài, bọn giảng viên Việt Cộng luôn luôn dùng tiếng “thằng” đằng trước tên của những người không thuộc phe của chúng. Tất cả những Tổng Thống Ford, Tổng Thống Thiệu, Phó Tổng Thống Kỳ, Phó Tổng Thống Hương v.v… đều được tặng thêm chữ “thằng”, nghe thật là chướng tai, nhưng phải chịu chứ biết làm gì bây giờ?

Một hôm có tên giảng viên cao hứng, nói rằng: “Các anh bây giờ cần phải từ bỏ cái lối suy nghĩ cũ mà các anh đã bị các tư tưởng phản động đầu độc, chẳng hạn như tư tưởng của thằng Phước…” Nghe tên “thằng Phước” chúng tôi ngớ người ra, nhìn nhau như ngầm hỏi “thằng Phước” là thằng nào. Mãi tới lúc về phòng mình, mới có một anh phát giác ra rằng “thằng Phước” tức là Sigmund Freud (*), một nhà phân tâm học nổi tiếng. Tôi nói lớn: “Vậy là từ nay phải nhớ thằng Phước là thằng Frớt nghe các bạn.”

(*) Freud, đúng ra phải đọc là /Froi/ nhưng người Việt Nam bị ảnh hưởng của tiếng Pháp gần 100 năm cho nên cứ tưởng nó là tiếng Pháp. Vì thế hầu hết người Việt phát âm Freud thành /frớt/. Mấy tên Việt Cộng, răng đen mã tấu biến nó thành ra “Phước”.

Cứ sau mỗi bài học, chúng tôi phải làm một bài “thu hoạch” (một bài khảo sát về sự hiểu biết sau bài vừa học). Bài thu hoạch không làm ở hội trường, mà về làm tại phòng ngủ của mình, thường là được một ngày, có khi hai ngày, để viết thu hoạch.

Một bài học, mà tôi quên tựa đề, trong đó nói về sự anh hùng của “nhân dân ta”. Tên giảng viên ba hoa khoác lác về sự anh hùng của “Cách Mạng”:

Nào là, “Quân đội Nhân dân là quân đội bách chiến bách thắng, đã từng đánh thắng ba tên đế quốc đầu sỏ Pháp, Nhật, và Mỹ.”

Nào là, “Ngay cả những đồng chí du kích gái cũng còn bắn rơi máy bay cánh cụp cánh xoè của giặc Mỹ.”

Nào là, “Anh hùng lái máy bay Phạm Tuân đã cho máy bay của mình núp ở trong mây, chờ cho máy bay của giặc Mỹ đến gần, anh mới bay ra bắn rơi máy bay Mỹ.”

Rồi hắn kết luận, “Đất nước ta có rất nhiều anh hùng, ra khỏi ngõ là gặp anh hùng, chỗ nào cũng có anh hùng vì thế mà thằng Tây, thằng Mỹ phải bỏ chạy, thằng Dương Văn Minh phải đầu hàng.”

Như thường lệ, chúng tôi cũng được một ngày để viết bài thu hoạch. Tôi nghĩ mà ấm ức trong lòng vì bây giờ tụi nó tưởng nó là kẻ “thắng trận” (xin nhớ thắng trận có ngoặc kép) cho nên muốn nói gì thì nói.
Trong bài thu hoạch (nói về nhân dân ta anh hùng), tôi nghĩ ra được một cách nói xỏ tụi nó mà nếu tụi nó biết, cũng chẳng có cớ để trừng phạt tôi. Sau khi tôi đã đóng vai con vẹt, lập lại những điều mà tên giảng viên đã nói trên hội trường để chứng tỏ rằng mình có nghe và hiểu rõ bài học. Tôi viết:

“Nhờ có bài học này mà tôi mới sáng mắt ra. Trước đây, tôi cứ tưởng chỉ có Mỹ là nhất; bây giờ thì thấy Mỹ còn thua xa Liên Xô về kỹ thuật chế tạo máy bay. Máy bay của Mỹ, như Thần sấm, Con ma, Cánh cụp cánh xoè, nếu tắt máy là coi như bổ nhào xuống đất. Máy bay Mỹ bắt buộc phải nổ máy thì mới tiếp tục bay trên không được. Trái lại, kỹ thuật chế tạo máy bay của Liên Xô thật là tuyệt vời; khi máy bay tắt máy mà vẫn ở trên không được. Nhờ kỹ thuật siêu đẳng này mà anh hùng Phạm Tuân đã núp ở trong mây, chờ cho máy bay của giặc Mỹ tới gần thì cho máy bay nổ máy và lao ra bắn máy bay của giặc. Giặc lái Mỹ không thể ngờ là máy bay Liên Xô có khả năng tắt máy núp trong mây như vậy. Vì thế anh hùng Phạm Tuân đã thắng giặc lái Mỹ dễ dàng.”

Tôi viết như trên để cho tụi nó biết rằng: “Tao biết tỏng là tụi bay chỉ nói phét” thôi. Làm gì có chuyện máy bay tắt máy mà có thể ở trên không được?”

Về anh hùng tí hon Lê Văn Tám (*), tôi viết:

“Anh hùng tí hon Lê Văn Tám đã đạt được thành công trong việc tự biến mình thành cây đuốc sống, rồi chạy vào kho đạn của giặc Pháp để đốt kho đạn; gây thiệt hại nặng nề cho giặc Pháp. Anh hùng Lê Văn Tám đã điều nghiên kỹ trước khi hành động để biết rằng tụi lính gác Pháp ban đêm thường hay uống rượu, say khướt, đến sáng lên phiên gác vẫn chưa hết say; mà nếu có hết say thì lại ngủ gà ngủ gật, đâu có còn tỉnh táo để canh gác. Vì thế anh hùng Lê Văn Tám mới có thể chạy từ cổng vào tới kho đạn (khoảng cách hơn 50 mét, phỏng chừng 170 ft) mà giặc Pháp chưa kịp phát hiện. Nếu như gặp bộ đội cụ Hồ canh gác, họ luôn luôn tỉnh táo, thì họ sẽ bắn gục Lê Văn Tám ngay khi Tám qua khỏi cổng rồi. Tóm lại, Lê Văn Tám vừa có can đảm, vừa có sự khôn ngoan, điều nghiên địch tình trước khi hành động, nên đã thành công vẻ vang.”

(*) Lê Văn Tám là tên một nhân vật tưởng tượng trong một câu chuyện tuyên truyền rẻ tiền do Việt Cộng viết ra để xúi trẻ con ăn cứt gà. Có tài liệu nói là “kho xăng”, có tài liệu nói là “kho đạn”, nhưng chi tiết này không quan trọng đối với bài viết này, xăng hay đạn cũng chẳng sao.
Bọn Việt Cộng cứ lập đi lập lại nhiền lần, riết rồi người ta tưởng đó là chuyện thật. Thậm chí truyện này còn được đưa vào chương trình học sử, bậc tiểu học của Việt Cộng, và cái tên “Lê Văn Tám” cũng được dùng để đặt cho trường học, công viên…

Chuyện này vô lý vì, làm sao mà Lê Văn Tám có thể chạy được một quãng đường dài hơn 50 mét mà không bị lính gác bắn chết? Vả lại, liệu một đứa trẻ 10 tuổi có thể chạy được một quãng đường dài như thế trong lúc toàn thân đang bị cháy như ngọn đuốc không? Lính gác đui hoặc ngủ gục nên đã không nhìn hoặc không nghe thấy gì sao? Thay vì nói rằng câu chuyện vô lý (sức mấy mà dám nói, muốn mập mình sao?) thì, tôi đã viết “khen ngợi” Tám như trên. Nếu bọn Việt Cộng hiểu ra ngụ ý của tôi rằng “tụi mày chỉ nói phét” thì cũng chẳng làm gì được tôi.

2.9. Đánh lộn

Chuyện đánh lộn giữa Thiệp và tôi (Thái) xảy ra đúng như câu thiệu có tính “tiên tri” do anh Tê đặt ra như đã kể ở trên, xin lập lại ở đây:

Liên Tỉnh Thái Bình – Hưng Yên Hãi Truyện Thiệp Oánh Tê

Tên bác sĩ Hải đổi thành Hãi (dấu ngã) cho câu văn hợp lý. Phần lớn người Nam hoặc Trung thường hay lẫn lộn hai dấu hỏi và ngã.
Oánh có nghĩa là đánh, theo cách phát âm của người miền Nam.
Tê là tên của anh Tê, nhưng ở đây hiểu Tê như là phát âm vần T của người miền Bắc, và là vần đầu của tên tôi (Thái).

Chừng hai, ba tháng sau khi chúng tôi tới ở Long Giao thì chuyện này xảy ra. Trong tổ tôi, Thiệp là người to lớn nhất, cao hơn 1,70 mét. Thiệp thường khoe rằng anh ta có “Đệ nhị đẳng huyền đai” môn phái Tae Kwon Do và đã từng làm huấn luyện viên võ thuật trước khi nhập ngũ. Thiệp còn cho biết rằng trước đây anh đã từng là đại đội trưởng đại đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Nếu chỉ vậy thôi thì cũng chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Đằng này, thái độ cư xử của Thiệp đối với anh em trong tổ mới là nguyên nhân dẫn đến đánh lộn.

Thiệp thường hay xửng cồ, nạt nộ mỗi khi không vừa ý một điều gì. Khi chơi cờ tướng mà bị thua, Thiệp hay đập tay xuống sàn gỗ hoặc mặt bàn, khiến cho quân cờ nảy lên hoặc xê dịch khỏi vị trí của nó. Mọi người trong tổ thấy chướng mắt nhưng đều nín nhịn vì “tránh voi chẳng xấu mặt nào.” Riêng tôi, tôi cũng bắt chước mọi người, nín nhịn cho qua. Tuy nhiên, trong thâm tâm, tôi không sợ Thiệp và chờ dịp thuận lợi tôi sẽ cho anh ta một bài học. Qua thái độ của tôi, Thiệp cũng biết rằng tôi không sợ anh ta mặc dù tôi nhỏ con hơn Thiệp.

Tôi không sợ Thiệp vì qua mấy tháng cùng ở và cùng làm việc với nhau, tôi đã có một sự đánh gíá khá đúng về Thiệp. Hai mu bàn tay của Thiệp (chỗ khớp nối các ngón tay với mu bàn tay) đã biến thành chai cứng do công phu tập luyện đấm bao cát mà có. Khi hai chúng tôi đi khiêng gạo với nhau, bao gạo 100 pounds, chỉ đi một quãng ngắn là tôi đã thấy hơi thở của Thiệp trở nên dồn dập; chứng tỏ rằng công lực của Thiệp không có nhiều. Tôi nghĩ rằng cái “Đệ nhị đẳng huyền đai” của Thiệp chỉ là nói phét. Giỏi lắm là đai đen trơn mà thôi.

Một buổi sáng, một nửa tổ tôi đi khiêng gạo, trong đó có Thiệp. Tôi không phải đi vì nằm trong phân nửa còn lại, sẽ làm việc khác. Thiệp vào phía trong nhà bếp, tự ý lấy cái gióng (quang) do tôi làm bằng dây kẽm gai mà không hỏi tôi. Khi Thiệp ra tới cửa trước, tôi hỏi:

- Ê Thiệp, anh có biết cái gióng này là của ai không?
- Đếch thèm biết, có ở đây thì tôi lấy xài, được không?
- Cái gióng này do tôi làm, anh muốn xài thì phải hỏi tôi.
- Đ.M. tao không hỏi thì mày làm gì được tao?
- Này, đừng ăn nói lỗ mãng, anh không được nói Đ.M. với tôi nghe.
- Tao cứ nói đấy.
- Thử nói lại coi.
- Đ…

Thiệp vừa mở miệng nói được chữ Đ…. thì lãnh ba cú đấm liên hoàn vào miệng (tay phải vừa rút ra thì tay trái đã tới miệng; tay trái vừa rút ra thì tay phải lại tới miệng). Thiệp không kịp đỡ. Tuy nhiên, tôi không dùng hết sức mạnh của tay tôi. Cả tổ đứng vây xung quanh hai đứa tôi để xem nhưng không ai can vì họ đều không ưa Thiệp. Tôi đứng dựa lưng vào cái cột ngoài hàng hiên; Thiệp đứng bên cạnh bàn ăn cơm của tổ ( mặt bàn ghép bằng gỗ thùng đạn pháo binh 105 ly, bề ngang chừng 80 cm, chiều dài hơn 2 mét). Khoảng cách giữa Thiệp và tôi hơn một mét. Thiệp chửi tôi trong khi tôi chỉ đứng nhìn anh ta:

- Đ.M. Mày là thứ gà mái đá gà cồ, về Sài-Gòn, mày sẽ biết tay tao (Thiệp nói vậy, vì hầu hết mọi người đều nghĩ rằng khi học xong 10 bài thì sẽ được cho về)

Vừa nói, Thiệp vừa đưa tay lên sờ môi; môi của Thiệp đã sưng vếu lên và có ít máu miệng chảy ra tay. Có lẽ Thiệp mắc cở với những người xung quanh cho nên anh ta quyết định đánh tôi để gỡ danh dự. Thiệp đập mạnh tay xuống mặt bàn ăn rầm một cái; mặt bàn gẫy sụm xuống vì ván ghép không được chắc. Thiệp tiến lại phía tôi, vẻ mặt đanh lại, tỏ dấu quyết ăn thua đủ. Tôi lùi mỗi khi Thiệp tiến lên. Ở trước cửa phòng ngủ của tổ, có lót một tấm vỉ sắt có lỗ (PSP, loại dùng cho quân đội làm sân bay dã chiến) chạy từ hiên nhà ra tới mép đường. Tôi định bụng là sẽ nhường Thiệp cho tới khi tôi lùi hết chiều dài tấm vỉ sắt (hơn 3 mét – 10 ft). Tới đầu vỉ sắt, tôi dừng lại. Thiệp thấy khoảng cách đã vừa tầm tay thì đưa tay phải ra định chụp tóc của tôi, nhưng anh ta đã chậm rồi. Tay Thiệp chưa đụng vào tóc tôi thì tôi đã trùn người xuống, xoay một góc 90 độ, ngược chiều kim đồng hồ; đồng thời dùng đòn ngũ phong (đánh bằng cùi chỏ) đánh vào mạng sườn bên trái của Thiệp. Bị trúng đòn nặng, Thiệp chưa kịp phản ứng gì thì tôi đứng lên, dùng hai tay đấm liên hoàn vào mặt của Thiệp. Thiệp chịu được ba bốn quả đấm thì hết nổi, ngã bật ngửa ra phía sau; nhưng tôi chưa ngừng, mà còn sấn tới định tặng cho Thiệp mấy cú đá nữa. Lúc này, anh Hải (tổ trưởng) và mấy người nữa mới chạy tới, người thì giữ tôi lại, người thì đỡ Thiệp đứng dậy đưa vào trong buồng.

Vì xảy ra đánh lộn, anh Tổ Trưởng giao cho người khác dẫn nhóm khiêng gao đi; anh phải ở nhà viết báo cáo sự việc cho Quản Giáo; tôi ngồi trong phòng chờ lệnh. Còn anh Thiệp vì bị rụng hai cái răng cửa, máu chảy ra nhiều, và mặt mũi sưng húp cho nên tự mình lên bệnh xá xin thuốc. Cán bộ bệnh xá thấy Thiệp như vậy, hỏi lý do và cho người báo ngay cho cán bộ quản giáo của đội tôi.

Chừng nửa giờ sau thì quản giáo và hai tên vệ binh mang súng AK-47 xuống phòng tôi, đọc lệnh phạt biệt giam tôi vào conex (*) chờ điều tra rồi sẽ có quyết đinh sau. Tôi đi theo Quản Giáo và hai tên vệ binh tới conex ở ngoài gần hàng rào kẽm gai. Chúng mở cửa conex và bảo tôi vào bên trong, xong, khóa cửa lại. Bữa cơm trưa và chiều, tổ trưởng cắt cử người đưa cơm cho tôi.

(*) Giải thích: Conex là tiếng dùng trong quân đội Mỹ để chỉ cái thùng sắt lớn (container), chứa vật liệu, kích thước cỡ 6’ x 7’ x 7’, cửa có khoen để khoá. Khi Việt Cộng dùng làm nhà biệt giam, chúng đục một ô nhỏ ở phía trên cho tù nhân thở, nhưng không thể chui ra được.

Hình 1

Conex là cái thùng nầy (phía sau những công nhân Việt của hãng thầu xây cất RMK thời chiến tranh Việt Nam).

Hình 1 do hội viên Thư Viện Việt Nam (bạn Phạm Thắng Vũ) có nhã ý góp thêm vào cho cuốn hồi ký này để giúp quí vị độc giả biết hình dạng của conex.


Hai hình bên dưới (gọi chung là Hình 2) là do hội viên Thư Viện Việt Nam (bạn Trai sau rieng) đã sưu tầm và có nhã ý giúp tôi nêu rõ hình ảnh của cái conex. Xin hãy đọc mấy lời anh viết sau đây:

Chào anh minhcanh,
Để giúp cho hậu thế ( sau này ) và những người bạn trẻ, những đồng bào chưa từng và chưa tưởng tượng nổi hình ảnh cái conex, và cảm giác bị nhốt trong conex như thế nào. Xin phép anh tôi đăng lại một vài bức ảnh trong cuốn phim Vượt Sóng để độc giả dể hình dung hơn.

Chỉ là hình ảnh bổ sung để diễn tả cái conex, không phải ăn cắp tác quyền của hình ảnh phim Vượt Sóng. Mong quý độc giả thông cảm.
Trân trọng,


Hình 2


Phía trước conex có cánh cửa kiên cố




(Hết phần giải thích)

Conex bên cạnh đã có người đang bị giam ở đó. Thấy có tiếng động, anh ta lên tiếng:
- Chào anh bạn, anh bị nhốt vì tội gì vậy?
- Tôi mới đánh lộn vài giờ trước đây, nên bị nhốt.
- Cả hai người cùng bị nhốt à?
- Không, chỉ có mình tôi thôi.
- Sao lạ vậy?
- Chẳng có gì là lạ cả. Thằng cha đó ba trợn, bị tôi hạ nốc ao (knock out). Tụi Việt Cộng coi như tôi đánh nó, và nó là nạn nhân. Thế còn anh bị nhốt vì lý do gì?
- Tôi lén dạy mấy anh em tập Thái Cực Đạo; tụi nó biết, nghi rằng tụi tôi luyện tập với ý đồ phản động, vì thế tôi bị nhốt. Tụi nó ngán mấy người biết võ. Kinh nghiệm cho tôi biết, nếu mình “có nghề” thì đừng để tụi nó biết.
- Anh bị nhốt đã lâu chưa?
- Hơn một tuần rồi; chưa biết khi nào được ra.
- Thôi ráng giữ gìn sức khỏe nhé. Mình sẽ nói chuyện tiếp sau.

Rồi, chúng tôi trở lại với những suy nghĩ riêng tư của mình.Vào ngồi trong conex, buổi trưa thì nóng như cái lò bánh mì, buổi tối khi sương xuống thì lạnh cắt da. Tuy vậy tôi không cảm thấy lo sợ, vì vụ đánh lộn này hiển nhiên là đột xuất chứ không phải vì lý do chính trị (bất đồng chính kiến) như bọn Việt Cộng nghi ngờ. Vả lại, tôi nghĩ vụ đánh lộn này đã làm thỏa lòng nhiều người trong lán (đội) - từ anh Lán Trưởng trở xuống đội viên; cho nên tôi tin là họ sẽ nói tốt cho tôi khi họ được hỏi tới. Và, đúng như tôi suy nghĩ, sau hai ngày hai đêm ở conex, tôi được thả ra và phải viết một bản kiểm điểm nộp cho Quản Giáo. Thế là êm ru bà rù, tôi lại hát bài khỏe re con bò kéo xe.

Về đến phòng, tôi thấy Thiệp được nghỉ đi lao động, nằm trên sạp, hai mắt tím bầm và mặt mũi còn sưng húp. Lúc này tôi đã hết cơn “Tặc giăng nổi giận” rồi; tôi hỏi Thiệp đã dùng thuốc gì rồi; Thiệp cho biết bệnh xá chỉ cho có tí nước muối về rửa thôi. Tôi cũng chẳng có thuốc gì giảm đau cho Thiệp uống. Tôi chạy xuống nhà bếp xin họ mấy muỗng muối hột, đem về phòng và rang muối cho thật nóng, rồi lấy miếng giẻ bọc muối lại để thoa lên những chỗ sưng. Khi nào muối nguội, tôi lại rang tiếp và cứ thế lập lại nhiều lần. Nhờ vậy, những vết bầm tím bớt đi dần dần. Ngày hôm sau trở đi, vì tôi phải đi lao động cho nên tôi chỉ làm cho Thiệp vào buổi tối mà thôi. Chừng một tuần lễ thì Thiệp hết được nghỉ lao động và phải ra đi làm với tổ. Nhìn bề ngoài thì chỉ còn thấy mắt hơi tim tím, nhưng tôi biết bên trong, Thiệp còn bị đau vài ba tuần lễ nữa vì cú đánh cùi chỏ của tôi vào mạng sườn, mỗi lần hít thở là bị đau. Điều này chỉ có mình tôi và Thiệp biết thôi nhưng chẳng ai muốn nói ra. Thiệp thì mắc cở, còn tôi thì dại gì mà khai báo rằng mình “có nghế” để cho tụi Việt Cộng để ý.

Khu tôi ở gồm có rất nhiều lán (dãy nhà) chia làm hai phần, cách nhau bởi một con đường lớn. Con đường này được tụi tôi đặt cho cái tên là “Đại Lộ Thống Nhất”. Chiều chiều, sau bữa cơm là giờ thoải mái nhất, chúng tôi thường từng nhóm hai ba người đi dạo trên đường này, vừa đi vừa trò chuyện và để gặp những bạn cũ nhưng hiện ở khác lán. Mấy người bạn cùng xóm với tôi, ở chung với nhau trong một lán, chỉ có mình tôi là lẻ loi mà thôi. Chuyện gì đặc biệt ở một lán, thì chỉ sau một buổi chiều là các lán xa gần đều rõ. Do đó chuyện tôi đánh lộn cũng đã đến tai mấy người bạn cũ của tôi.

Một buổi chiều, tôi ra “Đại Lộ Thống Nhất”, đi một quãng thì gặp anh Nguyễn Tiến Xuyên. Anh nói:
- Ê Thái, thằng Vi (Phùng bá Vi) về lán nó nói bô bô rằng một thằng chẳng có đai gì mà hạ nốc-ao (knock out) một thằng đai đen đệ nhị đẳng đấy

Tôi bảo Xuyên:

- Thằng đó mà đệ nhị đẳng cái con khỉ gì; giỏi lắm là nó được đai đen trơn thôi. Vả lại, vào đây nó bị mấy tháng ăn đói rồi, thì còn sức đâu để mà đánh với đấm nữa.

- Còn tin này nữa, tớ mới đọc báo, thấy toà xử thằng Phái (em trai tôi) 5 năm tù, Thái có biết không?

- Không biết, thôi đành phó thác cho Trời, chứ làm gì được bây giờ?

Sau đó chúng tôi nói chuyện linh tinh cho đến khi trời tối (*) thì ai về lán đó chuẩn bị đi ngủ.

(*) Suốt một năm ở Long Giao, cửa phòng ngủ của chúng tôi không bị khóa vào ban đêm. Vì thế, nhiều khi chúng tôi ra ngồi phía trước hè nói chuyện cho đến khuya mới vô ngủ. Chúng tôi chỉ tránh không đi lạng quạng ở ngoài vì sợ bọn lính gác bắn ẩu mà thôi.

Một buổi trưa, vài ngày sau khi tôi được ra khỏi conex, trong lúc tôi đứng sắp hàng chờ lãnh cơm cho tổ, có một anh ở cùng lán nhưng khác tổ, tương đối lớn tuổi, đứng sau tôi mấy người. Anh vọt lên, cầm bàn tay tôi nắn nắn, bóp bóp; tôi cứ để yên xem anh ta làm gì. Nắn một lúc, anh nói với mấy người đứng gần tôi rằng:

- Tay thằng cha này mềm xèo, mà sao lại đánh gẫy răng thằng kia, kể cũng lạ.

Tôi nói lớn cho họ nghe chung, rằng:

- Răng nó đã lung lay sẵn rồi, đụng nhẹ một cái thì răng rớt ra, chứ làm sao tay tôi đủ mạnh để đánh gẫy răng nó?

Tôi nói vậy cho qua chuyện và cũng để che dấu “nghề” của tôi. Ngu sao mà khoe ra? Thực ra, ngày xưa, khi tôi tập đấm bao cát xong, tôi phải ngâm hai bàn tay vào rượu thuốc chừng mươi mười lăm phút cho thuốc ngấm vào da thịt bàn tay. Nhờ vậy mà da tay tôi không bị chai cứng như những người khác.

Còn nữa, cũng sau khi tôi được ra khỏi conex vài ngày, một anh bạn khác cũng cùng lán nhưng khác tổ (tôi quên tên, chỉ biết người anh hơi thiếu thước tấc và có nước da ngăm ngăm), đến gặp tôi. Anh vừa cười vừa hỏi:

- Anh có biết Thiệp có biệt danh là gì không?
- Làm sao tôi biết được?
- Trước khi đi lính, Thiệp ở khu trường đua Phú Thọ (Sài-Gòn), nổi tiếng trong đám du đãng với cái tên là “Thiệp chộp” đấy.
- Sao lại là Thiệp chộp?
- Anh ta luyện hai bàn tay rất cứng. Khi anh ta muốn đánh ai, anh ta giả vờ đến xin người đó cho mồi thuốc; trong lúc người kia vô ý thì Thiệp dùng bàn tay cứng chắc của mình, chộp cổ áo đối phương cứng ngắc, và tay kia đánh đối phương.
- Thế lỡ đối phuơng của Thiệp không hút thuốc thì làm gì có hộp quẹt để mồi thuốc?
- Dân du đãng đứa nào chả hút thuốc.
- Thế à? Vậy là tôi may mắn không bị chộp bởi Thiệp đấy.

Tôi biết anh bạn này muốn khai thác tôi, xem “ngón nghề” của tôi ra sao nhưng tôi chuyển sang đề tài khác một lúc rồi chấm dứt câu chuyện. Nhờ vậy, tôi biết thêm một chút dĩ vãng của Thiệp.

Tôi và Thiệp còn ở chung một tổ thêm vài ba tháng nữa, sau đó Việt Cộng xáo trộn nhân sự, hai chúng tôi không còn ở chung nữa.

2.10. “Mấy chị không phải dân làm rẫy.”

Khi tôi được thả về, vợ tôi kể lại chuyến đi tìm tôi ở Long Giao như sau:

“Khi nhận được lá thư đầu tiên anh gửi về, cho biết là anh đang ở Long Giao, địa chỉ là L16- T1, em chuẩn bị đi tìm anh, may ra thì gặp. Em hỏi thăm chị Ngọc (*) về cách thức đi Long Giao vì trước đây chị ấy có thời gian đi theo chồng ở Long Khánh. Hai đứa tụi em sắp xếp, vài ngày sau thì lên đường. Chị Ngọc và em cùng đi Long Khánh và tá túc ở nhà một bà bạn hàng của chị Ngọc khi xưa. Bà bạn hàng của chị Ngọc có một người bà con ở gần trại Long Giao.

Sáng sớm hôm sau, bà bạn chị Ngọc cho đứa con của bà dẫn em về nhà người bà con của bà ấy. Còn bà ấy và chị Ngọc ở lại Long Khánh chờ em. Nó dẫn em vào một xóm, mà đứng ở bìa xóm có thể nhìn thấy người làm việc ở gần hàng rào trại tuy không rõ nét; khoảng cách phỏng chừng một cây số (2/3 mile). Ở xóm cũng đã có một số người đang chờ để tìm cách gặp thân nhân như em. Vì cùng cảnh ngộ nên chúng em dễ thân nhau; tính ra cũng trên mười người. Chúng em rủ nhau băng qua rẫy, tiến gần về phía trại Khi còn cách trại chừng hơn trăm mét (hơn 300 ft) thì đứng lại chờ thời. Mãi tới gần hai giờ chiều thì thấy có một toán tù xuất hiện ở gần bờ rào, do một thằng bộ đội dẫn đi. Bọn em ai cũng đầy hy vọng là có người thân của mình ở trong đó. Nhưng hy vọng đó tiêu tan nhanh chóng vì khi nhóm tù đến gần thì chúng em thấy họ còn rất trẻ, chắc chắn không phải là các anh rồi.

Một người trong bọn em đưa ra ý kiến rằng ai có thuốc lá thì bỏ ra một gói, hối lộ cho tên bộ đội để hỏi thăm tin tức, rồi ‘chúng mình sẽ hùn tiền trả cho chủ nhân gói thuốc đó.’ Em có mang theo cho anh mấy gói thuốc thơm Sa-mít (thuốc loại nhất, nhập từ Căm Bốt), em lấy ra một gói, đưa cho chị đại diện để chị làm nhiệm vụ lấy tin. Tên bộ đội thấy gói Sa-mít thì sáng mắt lên, tỏ ra cởi mở. Thấy vậy, cả bọn túm lại gần để hỏi thăm. Hắn cho biết nhóm tù này là tù hình sự; còn tù sĩ quan QL/VNCH thì làm ở phía trong nhưng hôm nay không có tù sĩ quan đi làm ở ngoài này (có lẽ hôm đó chúng tôi ở trại để học chính trị; ghi chú của Thái). Bọn em nghe xong, thấy nản quá. Vả lại, thấy đã về chiều, chúng em bàn nhau để lại một ít đồ ăn, mà không thể để lâu được, cho nhóm tù hình sự này. Tên bộ đội cũng dễ dãi cho nhóm tù hình sự ra nhận mà chia nhau ăn. Chúng em trở lại xóm, ngủ đêm ở đó. Trong nhóm này có ba chị cũng có chồng ở L16-T1, kể cả em là bốn người; chúng em ngủ tại nhà người bà con của bạn chị Ngọc.

Sáng hôm sau, bọn em dậy sớm, chia nhau mỗi người một việc; người thì nướng khô cá sặt; người thì nướng lạp xưởng; người thì mua gạo của chủ nhà và nấu cơm, vừa để ăn, vừa để vắt một ít cho các anh. Công việc chuẩn bị xong, bà chủ nhà bảo rằng chúng em ăn mặc kiểu thành phố thì không hợp; bà cho mỗi người mượn một bộ đồ làm rẫy, vai vác cuốc, đội nón lá, rồi theo bà đi sâu vào gần sát trại vì bà có mấy công đất ở trong đó. Chúng em tới vòng rào ngoài cùng, tên lính gác nhìn mặt từng người; hắn cho bà chủ nhà đi tiếp vào phía trong rẫy; còn bọn em bị nó chặn lại và nói rằng: ‘Các chị không phải là dân làm rẫy, các chị vác cuốc nhưng chẳng biết cuốc đâu, các chị không được vào.’ Bọn em năn nỉ muốn gẫy lưỡi cũng không lay chuyển được nó; đem thuốc Sa-mít ra dụ nhưng nó vẫn không cho vào. Chúng em rủ nhau đi vòng quanh phía ngoài, xem có bóng dáng gì của các anh không. Cuối cùng, đành chào thua số phận, quay về trong xóm để chuẩn bị ra lộ kịp đón xe đò kẻo trời tối. Em thì đón xe về Long Khánh gặp chị Ngọc; còn các chị kia thì đón xe về Sài-gòn. Thế là hai ngày tới trại tìm anh coi như công dã tràng!”

(*) “ Chị Ngọc” là gọi theo tên chồng, Trần Ngọc – khoá 23Pháo Binh. Nhà Ngọc ở kế nhà tôi. Ngày đi trình diện, Ngọc không nhập nhóm với chúng tôi, mà đi chung với mấy bạn trẻ. Vì vậy, Ngọc không bị giam chung với chúng tôi. Vợ của Ngọc đi với vợ tôi lên Long Khánh với vai trò dẫn đường; vì thế mà khi vợ tôi đi Long Giao, thì vợ của Ngọc ở lại Long Khánh. Hiện nay, gia đình Ngọc đang ở Oakland, Cali. Năm 2006, nhân dịp vợ chồng tôi đi Oakland ở chơi hai tháng với vợ chồng đứa con gái thứ tư của tôi (gọi theo người Nam, là thứ Năm), chúng tôi đã tới thăm vợ chồng Ngọc vài ba lần.


2.11. Hơn hai tháng hồi hộp

Một ngày, vào buổi trưa, các lán (đội) được thông báo không đi lao động. Mỗi lán cử hai người (Lán Trưởng và Lán Phó) đi dự một phiên xử án. Những người còn lại, được tập trung vào một sân rộng để nghe truyền thanh về vụ xử án. Chúng tôi hoang mang, không biết ai bị đem ra xử đây.

Bọn Việt Cộng dàn dựng một tòa án “Quân Sự Mặt Trận” cho vụ xử này; cũng có chánh án, có ủy viên công tố, nhưng không có luật sư bào chữa.

Qua loa phóng thanh, chúng tôi được biết phạm nhân là anh Lê Đức Thịnh, đại úy, huấn luyện viên trường Quân Báo Cây Mai (Sài-Gòn). Bản cáo trạng kể rằng anh Thịnh đã lén gửi thư về nhà, dặn dò con của anh phải nhớ báo thù cho anh.

Sau này được biết là, trong khi đi lao động ở ngoài hàng rào trại, anh lén đưa một lá thư cho người tài xế xe Lam (Lambretta ba bánh), nhờ anh này gửi thư về cho vợ con anh. Xui xẻo cho anh, người tài xế xe Lam không phải là “phe ta”; hắn đem thư này cho công an. Do đó, anh Thịnh bị bắt giam vào conex cũng khá lâu.

Phiên xử chỉ là bầy ra cho “có vẻ”, thế thôi, vì bản án đã được quyết định từ trước. Buổi sáng trước khi xử, bọn chúng đã cho đào sẵn một cái huyệt ở gần nơi xử án. Đồng thời, chúng cho anh Thịnh ăn một bữa cơm khá hơn bình thường. Có lẽ anh Thịnh không biết rằng mình bị xử tử, vì theo như mấy người đi dự phiên tòa thì, anh Thịnh không bị bịt mắt, mà chỉ bị trói tay thôi; và anh tỏ ra bình thản. Khi được nói, anh Thịnh còn ca ngợi sự “khoan hồng của Cách Mạng” và hứa sẽ “học tập cải tạo” tốt.

Chúng tôi dự đoán rằng anh Thịnh sẽ bị tăng thêm mấy năm án tù nữa thôi. Ngờ đâu, tòa tuyên án tử hình. Khi vừa tuyên án xong, tên vệ binh (đứng cạnh anh) dùng khăn bịt miệng anh ngay, và tiếp theo là bịt mắt. Anh Thịnh có muốn chửi bới bọn chúng cũng chẳng làm gì được nữa. Sau đó toà tuyên bố giải tán. Chúng tôi cũng giải tán luôn. Chỉ chừng 15 phút sau, khi các người đại diện chưa về tới lán, chúng tôi đã nghe được mấy tiếng súng nổ. Thôi rồi! Một linh hồn vừa lìa khỏi xác! Mọi người nhìn nhau ngán ngẩm cho cái số phận mong manh của mình. Tôi thầm xin Chúa mau đưa linh hồn anh Thịnh về nơi vĩnh phúc. Vĩnh biệt Thịnh!

Về đến phòng, tôi nghĩ đến mình mà lo ngay ngáy. Chả là trước đây vài tuần, tôi cũng đã gửi lén một lá thư về cho gia đình. Dạo này, chúng tôi đã học xong 10 bài chính trị; chúng tôi đi lao động phía gần hàng rào trại. Hơn nữa, bọn lính gác cũng lơ là, cho nên các bà vợ tù đôi khi gặp may, cũng gặp được chồng mình. Các bà này thường lén lút nhận thư của bọn tôi nhờ chuyển. Tôi đã gửi thư theo cách đó. Bình thường thì an toàn, vì các bà đều là “phe ta” cả. Nhưng biết đâu đấy, lỡ ra các bà ấy bị công an xét hỏi, rồi lòi ra mấy cái thư lén đó thì sao đây? Vì thế, tôi chỉ lo, lỡ ra thư của mình nằm trong trường hợp xui xẻo đó thì lãnh đủ. Từ sau ngày anh Thịnh bị xử bắn, lòng tôi rối bời, ăn không ngon ngủ không yên mặc dù thư của tôi không gay gắt hằn học như của anh Thịnh. Đại ý trong thư, tôi chỉ nói tình trạng đói khổ, và nhắc vợ tôi đừng tin những gì bọn nó (Việt Cộng) nói.

Tình trạng hồi hộp của tôi kéo dài hơn hai tháng thì tôi nhận được thư nhà, nói bóng gió cho tôi hiểu là đã nhận được lá thư gửi lén của tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm và lòng thầm cảm tạ Chúa đã giúp tôi tai qua nạn khỏi.

Tôi nghĩ, không phải chỉ môt mình tôi mang tâm trạng lo âu, mà còn nhiều người, đã gửi thư lậu cùng thời với tôi, cũng không tránh khỏi hồi hộp nếu trong thư của họ có nội dung “phản động”.

Số phần của anh Thịnh thật là xui xẻo. Tội của anh đâu đến nỗi bị xử tử nhưng vì sự việc xảy ra đúng vào lúc mà bọn Việt Cộng cần một con dê tế thần. Chúng cần phải xử bắn một người để ngăn ngừa những mầm mống chống đối trong trại sau vụ án “Nhà Thờ Vinh Sơn” đầu năm 1976 ở Sài-Gòn.


2.12. Anh em gặp nhau

Từ hôm gặp anh Xuyên trên “Đại Lộ Thống Nhất” trong trại Long Giao, biết tin em trai tôi bị kết án 5 năm tù, tôi yên tâm hơn vì chắc chắn rằng em tôi đã không bị xử tử. Em tôi (Phái) đã bị bắt đêm hôm 1 tháng 5 năm 1975, bị đưa lên xã vì bọn Việt Cộng nằm vùng muốn giết Phái.

Bình thường thì những người như Phái chỉ phải lên xã học tập 3 ngày rồi được về nhà làm ăn. Nhưng, Phái bị tụi nằm vùng thù ghét vì tính hung hăng con bọ xít của tuổi trẻ.

Khi tới tuổi quân dịch, Phái xin gia nhập Nghĩa Quân để được gần nhà, và thuận tiện cho việc trông coi tiệm chụp hình của mình. Sau đó Phái xin biệt phái sang làm phó trưởng ấp, phụ trách về an ninh trong ấp. Vì còn trẻ và lại được ông trưởng ấp cho đi tàu bay giấy nên Phái hoạt động rất hăng trong công tác lùng bắt thanh niên trốn quân dịch. Hầu hết những thanh niên trốn quân dịch là dân địa phương (rất ít khi là gốc Bắc Kỳ di cư); trong số đó cũng có lẫn lộn một số Việt Cộng nằm vùng. Đó là lý do mà bọn này căm thù Phái.

Sau lệnh đầu hàng ngày 30/4/1975 của Tổng Thống Dương Văn Minh, những tên Việt Cộng nằm vùng xuất đầu lộ diện. Chúng là những thằng chăn bò, chăn trâu, thợ hồ v.v…mà hầu hết là những đứa đã từng bị Phái bắt đưa về quận về tội trốn quân dịch.

Giữa đêm 1 tháng 5 năm 1975, bọn Việt Cộng trên xã tới gõ cửa nhà Phái, còng tay và dẫn đi. Một người hàng xóm của chú ấy chạy vào báo cho tôi biết việc Phái bị bắt. Từ lúc đó, cả nhà tôi không ai ngủ được vì đều nghĩ rằng Phái sẽ bị giết ngay trong đêm. Mẹ tôi bảo cả nhà đọc kinh, xin Đức Mẹ Maria cứu giúp; sức riêng chúng tôi thì không làm được gì.

Trời vừa sáng, tôi sang nhà chú Khái (phía sau nhà tôi), nhờ chú ấy đạp xe đi từ chợ Tam Hà lên tới xã Tam Bình, và nhìn kỹ dưới ruộng hai bên lề đường xem có thấy xác chết của Phái không. Chú Khái cỡ tuổi với em tôi, nhưng không phải đi quân dịch vì lý do mẹ goá con côi. Khái chỉ lo làm ăn nên không lo lắng gì khi thời thế thay đổi. Còn tôi, lúc này ít khi dám ra khỏi nhà để tránh tai bay vạ gió.

Đến gần trưa, Khái trở về cho biết là không thấy gì dọc theo ruộng rẫy hai bên vệ đường. Tôi yên tâm phần nào, và ra bảo vợ chú em lên xã hỏi thăm tin tức. Vợ chú đi ngay. Mới đầu tụi nó (Việt Cộng) nói không biết. Sau đó gặp một tên bộ đội Miền Bắc thì được nó chỉ cho chỗ giam Phái nhưng không cho gặp mặt. Vợ chú em tôi nhờ tên bộ đội này chuyển cho Phái một ổ bánh mì, và ra về.

Sau này, nghe Phái kể lại là “Hôm đó tụi nó tính đánh cho em chết luôn. Em không còn ngồi dậy được nữa và mong cho tụi nó bắn em ngay để bớt đau đớn. Nhờ có tên bộ đội Miền Bắc ở đó; hắn không cho bọn kia đánh tiếp và bảo đem giam em lại.”

Vợ chú Phái về cho tôi biết tin trên, tôi nghĩ phải tìm cách gì để tụi nó chuyển Phái ra giam ở huyện thì mới mong thoát khỏi ăn đòn tiếp. Tôi chợt nghĩ tới tướng Trần Văn Trà, Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Sài-Gòn (mà chúng đã đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh). Tôi thảo một lá thư gửi cho tướng Trà, trong thư, tôi dựa vào “Chính sách khoan hồng 7 điểm” của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam, và nói đại ý rằng:

“ Theo như chính sách khoan hồng thì mọi người thuộc chế độ cũ, từ cấp tướng trở xuống đều được khoan hồng, trong khi Phái chỉ là một viên chức xã ấp hạng thấp nhất, tương đương như một binh sĩ, mà lại bị bắt và đã bị hành hạ dã man và hiện đang bị giam tại xã. Đây chỉ là hành động trả thù cá nhân và đi ngược với chính sách của chính phủ, gây mất lòng tin cho dân chúng. Nếu như Phái có tội thì xin được đưa ra xử công khai để chứng tỏ sự quang minh chính đại của chính phủ.”

Thảo xong lá thư, tôi đưa cho vơ chú em và bảo viết lại lá đơn bằng chính nét chữ của mình. Sau khi viết lại, thì xé bỏ lá thư do tôi thảo ra để phi tang. Ngoài bì thư đề gửi cho Thượng Tướng Trần Văn Trà, Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh; rồì đem ngay ra ty bưu điện Thủ Đức gửi.

Trong khi chờ đợi kết quả lá thư vừa gửi, mỗi sáng vợ của Phái mang đồ ăn tiếp tế cho chồng ở xã, nhưng vẫn không được gặp mặt. Đồ tiếp tế thường là bánh mì. Một hôm tên bộ đội gác cửa nói với vợ của Phái “Chị tiếp tế đồ ăn gì mềm mềm để chồng chị dễ ăn.” Tôi biết ngay, đây là dấu chỉ, cho biết quai hàm và răng của Phái bị đánh,đau không thể nhai được.

Năm ngày sau khi gửi lá thư cho tướng Trà, vợ chú em tôi lên xã tiếp tế cho chồng như thường lệ, thì được biết Phái đã được chuyển ra nhà giam huyện Thủ Đức. Tôi thêm an tâm vì từ nay Phái không còn bị ăn đòn trả thù nữa. Nhà tù ở huyện cho tù nhận đồ tiếp tế dễ hơn một chút nhưng vẫn không được gặp mặt thân nhân.

Tôi vội lật cuốn sách thuốc chỉ dẫn về cách thức trị các thương tích mà tôi có sẵn trong nhà.
Trong sách có đầy đủ các toa thuốc để chữa trị cho từng vùng bị thương trên cơ thể. Đầu tiên, tôi dùng toa trị cho “Bị thương toàn thân”; ra tiêm thuốc bắc mua hai thang để uống hai ngày. Mỗi ngày tôi dặn vợ của Phái, sắc một thang, để cho cạn còn chừng một chén thì lấy ra, chờ cho thuốc nguội bớt đi, rồi chứa thuốc vào bịch ny-lông, nhớ kèm theo ống nhựa để hút. Phải nói là cà phê sữa, chớ nói là thuốc. Vợ chú làm y lời tôi. Ngày hôm sau, vợ chú sắc chén thuốc thứ hai và cũng làm như lần trước. Sang ngày thứ ba, tôi đổi sang toa thuốc “Bị chấn thương vùng mặt” để giúp em tôi bớt đau đớn quai hàm, có thể nhai đồ ăn đễ dàng. Phương thức sắc thuốc và tiếp tế cũng vẫn vậy. Tới sáng ngày thứ tư, gặp tên lính gác hắc ám; nó không cho đem cà phê vào vì “Tù mà còn cà phê với cà pháo à?” Vợ Phái về cho tôi biết tin trên; tôi bảo đừng lo, vài giờ nó đổi phiên gác thì đứa khác sẽ cho nhận. Đúng như lời tôi nói, lần sau ra tiếp tế thì được trót lọt.

Sau bốn ngày rồi, tới ngày thứ năm, tôi đổi sang toa thuốc “Bị chấn thương vùng ngực”; cũng vẫn 2 thang cho hai ngày. Bây giờ mỗi lần tiếp tế, tụi nó cho tù ra nhận đồ ăn và trả lại giỏ xách, đồ đựng thức ăn của ngày hôm trước, nhưng vẫn không được phép nói với nhau lời nào. Lần này, trong quai giỏ xách có dấu một mẩu giấy ghi “Cà phê ngon lắm, gửi tiếp.” Tôi rất mừng vì biết rằng thuốc đã có công hiệu.

Tôi tiếp tục chọn các toa thuốc để chữa tri cho Phái. Cứ hai ngày đổi sang toa thuốc khác một lần. Từ chấn thương vùng ngực, tới vùng bụng, tới đầu, rồi tới vùng tay chân, và cuối cùng, tôi trở lại toa ban đầu “Bị thương toàn thân”, uống 5 ngày liền, mỗi ngày một thang. Những mẩu giấy thông tin mật vẫn có mỗi ngày. Do đó tôi biết đầy đủ về kết quả của những toa thuốc. Cho đến một ngày, Phái cho biết “Thích cà phê đen hơn cà phê sữa”; chứng tỏ rằng hầu như Phái đã hồi phục.

Tôi chẳng biết gì về chữa bệnh bằng thuốc bắc nhưng việc xảy ra như vậy, tôi bắt buộc phải làm do sự suy luận hoàn toàn của riêng mình; nghĩa là tôi phải đóng vai ông lang băm, chưa qua một trường lớp huấn luyện nào cả. Ngay như câu “Cơm ba bát, thuốc ba thang” để chỉ ra tiêu chuẩn ăn cơm và uống thuốc, mà tôi cũng không theo được. Tôi chỉ cho em tôi uống hai thang, rồi phải đổi sang toa thuốc khác vì nghĩ rằng thời giờ quá cấp bách cho nên phải giảm đi số thang thuốc cần uống kẻo không kịp thì sao. Quí vị rành về Đông Y, xin đừng chấp ông lang băm này, quí vị nghe xong rồi bỏ. Cũng may là những ngày Sài-Gòn mới mất, thuốc bắc chưa đến nỗi khan hiếm lắm, cho nên còn đủ các vị thuốc mà tôi cần.

Sự việc em tôi khỏi các chấn thương, có lẽ, là do quyền năng của Đức Mẹ Maria. Ngài đã đáp ứng lời khẩn cầu hằng ngày của mẹ tôi mà chữa lành cho em tôi. Đúng là “phước chủ, lộc thày.” Bệnh nhân vì có phước mà khỏi bệnh, nhưng ông lang băm lại được tiếng là mát tay. Trở lại việc em tôi bị kết án 5 năm tù, câu chuyện khó tin nhưng có thực.

Đầu tiên là vợ của em tôi bị tụi công an huyện gọi ra điều tra. Chúng đưa lá thư ra và hỏi ai đã viết thư này cho tướng Trà. Vợ của Phái trả lời là chính cô ấy viết. Nó đưa giấy bút và đưa lá thư đó, bảo cô ấy viết lại y như vậy để nó xem nét chữ có giống nhau không. Trên lá thư, cô ấy đọc được mấy lời phê của tướng Trà rằng “Chính quyền địa phương phải giải quyết vụ này, không được làm mất chính sách của chính phủ Cách Mạng.” Nhờ vậy mà Phái được bọn Việt Cộng xã đưa ra giam ở huyện. Khi viết lại lá thư xong, chúng thấy đúng là chữ viết của cô ta; chúng quay qua điều tra hướng khác, rằng:

- Ai đã chỉ dẫn cho chị viết lá thư này?
- Có một anh bộ đội vào tiệm hình của tôi xem hình của khách mà tôi treo trên tường; tôi than thở với anh ta có cách nào giúp cho chồng tôi ra tù không; anh ta chỉ cho tôi cách viết và gửi thư, và tôi làm theo anh ta chỉ dẫn.
- Chị có hình của anh bộ đội đó ở tiệm không?
- Không, anh ấy chỉ vào xem hình rồi bỏ đi, không chụp hình nào cả.

Chúng thấy không khai thác được gì, chúng cho vợ của Phái về. Mấy ngày sau, chúng vào tiệm hình và khám xét lung tung, cũng chẳng có chứng cớ gì thêm cho chúng. Tuy nhiên, chúng không chịu thua đâu. Chúng âm thầm bầy mưu tính kế để giết em tôi một cách “hợp pháp, không vi phạm chính sách của chính phủ Cách Mạng,” mà chỉ sau ngày xử án chúng tôi mới biết. Riêng tôi chỉ biết điều này sau khi đã được ra khỏi tù.

Một tuần trước ngày xử án, mỗi buổi tối, xe phóng thanh đi khắp các ấp, kêu gọi mọi người phải đi dự phiên toà sẽ diễn ra ngày … tháng …”Toà Án Nhân Dân” là tiếng chúng dùng để giết người nhưng đổ thừa cho nhân dân xử án (không phải bọn chúng). Trong đám nhân dân, tụi nó gài sẵn một ít cò mồi, chia ra đứng rải đều trong đám dân chúng. Bọn cò mồi này sẽ hô “Đả đảo - Nhất trí …” để lôi kéo đám đông làm theo chúng. Ai đã từng xem phim “Chúng Tôi Muốn Sống” thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì biết rõ kiểu xử án này.

2.12 (tiếp theo)

Trong phiên tòa có hai phạm nhân, một người phạm tội cướp
của giết người; người thứ hai là em tôi, phạm tội “hãm hiếp phụ nữ” nhiều lần, do đơn tố cáo của nạn nhân (vì chúng không thể xử em tôi về tội chống phá Cách Mạng, nếu làm vậy là đi ngược lại chính sách khoan hồng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam). Công tố viên đọc tội trạng của từng người, sau đó yêu cầu toà xử tử hình cả hai. Kẻ phạm tội giết người thì mọi người đều “nhất trí”. Tới lượt em tôi, một bà trung niên người Miền Nam (Sau này được biết tên bà là Nguyễn Thị Thơm). Bà không để cho bọn cò mồi kịp hô “nhất trí” và tự giới thiệu là Chủ Tịch Hội Phụ Nữ của huyện Thủ Đức. Bà nói đại ý rằng:

Đơn tố cáo của nạn nhân là không hợp lý vì, với kinh nghiệm của một phụ nữ thì, hãm hiếp chỉ có thể xảy ra một lần mà thôi. Nếu nói là đã bị hãm hiếp nhiều lần là nói sai. Nếu nạn nhận đã ăn nằm với Phái nhiều lần thì chứng tỏ có sự đồng thuận của đương đơn, không thể gọi là nạn nhân được. Vả lại, đương đơn đã trưởng thành, có đủ hiểu biết, không thể kết án Phái “dụ dỗ gái vị thành niên”. Án tử hình cho Phái là quá đáng. Bà xin toà xét lại bản án, tối đa là vài ba năm thôi.

Bà nói đúng ý dân chúng nên được vỗ tay rần trời. Đám cò mồi đành im re. Được thể, một bà nữa – Bà Đoan, ở cùng ấp Tam Hà với chúng tôi, đứng lên nói tiếp, cũng cho là lời tố cáo Phái là hoàn toàn bịa đặt, xin toà cho Phái một cái án thật nhẹ. Dân chúng lại vỗ tay rần trời để hưởng ứng lời bà Đoan. Thấy vậy, bọn Việt Cộng vào nghị án lại, sau đó tuyên án Phái bị 5 năm tù giam, còn người kia thì vẫn tử hình.

Bọn Việt cộng mượn danh nghĩa nhân dân để giết người. Mà, bây giờ nhân dân không đồng ý thì chúng phải lùi một bước; lùi để sau này tiến mấy bước thì chưa ai biết.

Theo sự thường thì, nhân dân trong cái gọi là Toà Án Nhân Dân thường là những người hiền lành, chất phác. Họ đến dự chỉ vì bắt buộc phải đến dự; số người hiếu kỳ, đến dự để thoả tính tò mò thì cũng có nhưng không phải là đa số. Đám dân chúng này đều là những người thụ động; họ bị lèo lái bởi đám cò mồi

Trong phiên toà xử em tôi, sự việc đã xảy ra không bình thường. Hai người dân đã đứng lên phản đối bản án với sự vỗ tay tán thưởng của cả đám đông. Vì thế, em tôi đã thoát khỏi bản án tử hình.

Có một điều đặc biệt là, hai bà đứng lên bênh vực em tôi, đều không có sự liên hệ gì với gia đình tôi. Bà Chủ Tịch Hội Phụ Nữ là dân cách mạng; bà có một người em trai khi đó đang là trung tá trong quân đội Việt Cộng. Động cơ nào đã thúc đẩy bà đứng lên bênh vực em tôi? Không ai biết. Sau vụ án này, bà bị mất chức chủ tịch và bị cho về vườn.

Khi bà nghe tin em tôi được tha đầu năm 1981, bà ghé nhà thăm hỏi em tôi vài lần như thể hai người đã quen thân nhau từ lâu.

Em tôi vượt biển, sang Mỹ năm 1983, được ít lâu thì nhận được cú điện thoại của bà gọi. Bà cho biết là trước khi bà sang Mỹ (do con bảo lãnh), bà tới xin vợ chú em tôi số điện thoại để liên lạc với chú ấy khi cần. Sau cú điện thoại, em tôi đã thu xếp để bay về Virginia thăm bà. Hiện nay (2008), bà vẫn còn ở Virginia.
Người thứ hai là bà Đoan. Tuy là người cùng một ấp, cùng một giáo xứ, nhưng gia đình tôi chỉ biết bà, chứ không quen thân. Mà, nếu có quen biết nhau từ trước, gia đình tôi cũng không dám có ý định nhờ bà đứng ra bênh vực em tôi trước toà án. Tâm trạng của mọi người trong thời gian này đều hoang mang, sợ sệt. Lo sợ cho chính bản thân và gia đình mình còn chưa xong, thì tâm trí đâu mà lo lắng cho người khác? Ai muốn mang vạ vào thân lúc này? Vậy thì cái gì đã khiến bà tự ý đứng lên bênh vực em tôi? Không ai biết.

Sau này, tôi thường nhắc em tôi rằng: “Hai bà ấy là người đã sinh ra chú lần thứ hai đấy; chú phải nhớ mà ‘sống thì tết và chết thì giỗ’ cho phải đạo làm người.”

Năm 1987, khi đó tôi đã có mặt ở nhà; anh Sơn (bạn tôi, và ở cách nhà bà Đoan vài căn) tới chơi và cho biết:

Bà Đoan mới làm đơn khiếu nại xã ấp về điện nước chi đó. Không ngờ tụi nó (Việt Cộng) thù dai thật! Nó bảo bà Đoan rằng: “Bà còn một tội to lắm đấy; bà có biết rằng vì bà mà chúng tôi không giết được thằng Phái không?”

Vợ tôi kể, sau vụ án, mẹ tôi thường nói, đây là phép lạ của Đức Mẹ Maria. Chính Đức Mẹ đã xui khiến hai bà ấy nói ra như vậy. Tôi cũng có cùng ý nghĩ như mẹ tôi vì, nếu không thì, không có câu giải đáp cho câu hỏi về “nguồn động lực thúc đẩy” trên đây. Bây giờ trở lại chủ đề “Anh em gặp nhau”.

Chúng tôi đang có vài ngày không lao động, ở nhà làm bài “thu hoạch”. Chúng tôi ngồi viết; viết chán thì ra ngoài đi lòng vòng cho đỡ căng thần kinh. Trong lúc tôi đang cặm cụi viết thì anh Liên (*) chạy vào cho tôi biết là có em tôi đang chờ ở ngoài hàng rào.

(*)Liên là trung úy Pháo Binh, cũng là dân Thủ Đức nhưng không phải Tam Hà, mà là trại Bắc Ninh. Liên không cùng tổ vói tôi, mà ở tổ bên cạnh. Chúng tôi thân nhau vì cùng binh chủng.

Nghe Liên nói, tôi vội chạy ra hàng rào, chỗ em tôi đang chờ. Hôm nay, đội của Phái làm tạp dịch ở bãi đất bên ngoài hàng rào trại tôi.Anh em tay bắt mặt mừng. Phái nói:
- Em bị kết án 5 năm, nhưng họ nói nếu lao động cải tạo tốt thì sẽ được về sớm.
- Chú đừng tin tụi nó mà đi vào con đường làm hại bạn bè, đồng đội. Phải giữ gìn sức khỏe, đừng có cố sức mà chết uổng đấy.

Nhìn xuống dưới chân, tôi thấy em tôi đi đôi guốc tự chế, bằng hai miếng gỗ và miếng vỏ xe đạp làm quai. Tôi tháo đôi dép râu mà tôi đang mang, đưa cho Phái, rồi bảo em tôi chờ để tôi chạy về phòng lấy mấy viên thuốc Cloroquine (ngừa sốt rét).

Tôi đưa cho Phái 10 viên Cloroquine và dặn khi nào tới vùng nước độc, mỗi tháng uống một viên để ngừa sốt rét ngã nước. Phái chỉ cho tôi khu nhà mà Phái (tù hình sự) đang ở. Chỗ chúng tôi đang đứng nhìn sang cũng khoảng 50 mét (hơn 150 ft). Hàng rào khu tù hình sự và hàng rào khu tôi được phân cách nhau bằng một ngã tư của hai đường đất đỏ tương đối lớn. Hai bên đứng nói chuyện với nhau thì khó vì thế tôi dặn Phái, mỗi buổi chiều sau giờ cơm, ra gần góc đường. Bên này, tôi cũng làm như vậy. Nếu cần nhắn gửi gì thì viết vào mẩu giấy, rồi cột vào cục đá, ném qua ném lại cho nhau. Chúng tôi tiếp tục liên lạc với nhau qua phương thức này chừng một tháng thì Phái bị chuyển trại, không biết đi đâu.

Năm 1991, khi tới Dallas, anh em gặp lại nhau, Phái cho tôi biết:

“Nhờ có mấy viên thuốc ngừa sốt rét anh cho, mà em thoát chết vì sốt rét đấy. Ở Long Giao được ít lâu, tụi nó chuyển bọn em lên trại Bù Đốp (Phước Long). Đội em chết gần một nửa vì sốt rét. Những người còn sống thì cũng dính sốt rét. Chỉ có em là không sao cả.

“Khi anh Lộc, bạn anh, được về, tới nhà tìm em và chuyển lời nhắn của anh rằng phải trốn ra nước ngoài càng sớm càng tốt. Thế là em tìm cách vượt biển ngay, rất may là đi một lần được trót lọt ngay. Nếu bị thất bại thì không biết sẽ ra sao?”

Hiện giờ gia đình của chú em tôi đang ở Irving, Texas (vùng Dallas). Không ngờ “tên hãm hiếp phụ nữ” này bây gìờ đã trở thành bố của một linh mục, thụ phong năm 1999.


2.13. Chính sách 12 điểm

Mười bài chính trị đã học xong, chúng tôi người nào cũng mong ngóng xem có dấu hiệu gì là sắp được về hay không. Chúng tôi vẫn đoán già đoán non ngày về của mình dựa vào sự tiếp tế gạo, vào các công tác xây cất, hoặc vào công việc trồng tỉa. Nhưng, mọi dự đoán đều sai bét.

Một hôm, anh Lán Trưởng đem về một bản “Chính sách 12 điểm của chính phủ”. Chúng tôi chuyền tay nhau đọc để tìm hiểu xem nó là chính sách gì đây. Phải công nhận bọn Việt Cộng chơi chữ rất tài tình. Chẳng hạn chúng bảo “Mang theo tiền ăn và đồ dùng cho 10 ngày,” thì ai cũng nghĩ là thời gian “học tập” sẽ là 10 ngày. Đến khi quá hạn 10 ngày, có người thắc mắc thì chúng trả lời:

“Chúng tôi bảo các anh mang theo tiền ăn 10 ngày, chứ chúng tôi không bảo các anh sẽ học tập 10 ngày. Các anh phải mang tiền ăn 10 ngày vì trong thời gian đầu, nhà nước chưa có khả năng lo cho các anh, các anh phải tự túc trong 10 ngày đầu. Sau đó thì nhà nước sẽ lo cho các anh; như vậy là lô-gíc rồi.”

Nghe trả lời như thế, chúng tôi ngán ngẩm thở dài. Mắc lừa rồi! Hết thuốc chữa – No medicine!

Chính sách 12 điểm này cũng vậy. Chúng dùng chữ rất khéo léo; khiến cho người nào đọc xong, cũng tự đánh giá tội trạng của mình dựa theo 12 tiêu chuẩn (điểm) của chính sách, và.kết luận rằng, cứ coi như mình là loại nặng tội nhất, thì cũng chỉ 3 năm là được tha. Thôi thì ráng chịu đựng cho qua ba năm. Riêng anh Đào Ngọc Tỉnh thì vẫn giữ vững lập trường của anh: “Đây mới chỉ là mấy trang mở đầu thôi, sẽ còn những trang kế tiếp.” Thời gian đã chứng minh rằng anh Tỉnh có lý.


2.14. Chuẩn bị chuyển trại

Đầu tháng 5/1976, toàn trại có một đợt “biên chế” (sắp xếp lại nhân sự). Tất cả các bác sĩ được tập họp thành một nhóm và vài ngày sau được đưa đi nơi khác. Chẳng biết họ đi đâu.

Bệnh xá cũng dẹp tiệm, không còn khám bệnh phát thuốc nữa. Nói cho oai vậy thôi, chứ thuốc đâu ra để mà phát? Nhưng dù sao, sự hiện diện của bệnh xá (nếu còn) cũng là một chút hy vọng cho những người yếu bóng vía.

Tổ tôi có một anh mới được chuyển tới. Tôi không nhớ tên anh vì thời gian ở chung rất ngắn. Anh người miền Trung, cấp bậc đại úy, nằm cạnh tôi. Khi anh mới chuyển đến, anh còn đang bị cảm sốt. Con mắt của anh chứng tỏ anh là một người yếu thần kinh. Con mắt là cửa sổ của tâm hồn mà. Anh không ăn được cơm cho nên tôi thường chừa phần gạo của anh, đem về phòng nấu cháo và ép anh ăn (Thời gian này, tôi đang có nhiệm vụ nấu cơm cho đội). Khi nghe tin bệnh xá dẹp tiệm, anh càng tỏ ra lo sợ. Tôi luôn phải trấn an anh, rằng có bệnh xá thì anh cũng chẳng có thuốc mà uống đâu; vài ba viên xuyên tâm liên thì nhằm nhò gì. Rồi bệnh của anh cũng dần dần thuyên giảm và hết. Vậy mà anh đối lại với tôi thì khác.

Chỗ nằm của chúng tôi, mỗi người chừng 55 cm (22 inches). Do đó, mỗi lần vài người bạn của tôi đến chơi, thường ngồi lấn sang phần nằm của anh. Lần đầu không sao, nhưng sang đến lần thứ hai thì anh dùng một que gỗ, đặt giữa ranh giới chỗ nằm của hai người. Thấy vậy, chúng tôi rủ nhau ra ngoài hè ngồi nói chuyện. Đúng là gặp thứ “thày chạy” rồi. Nói theo kiểu tiếng Tây lai căng, là phi-ní-lô-đỉa (Fini l’eau dire = hết nước nói)!

Anh Đỗ Đình Quỳ (trong nhóm 5 người cùng đi trình diện với nhau) làm trong tổ lò rèn của trại. Quỳ cho biết, tổ lò rèn đã có lệnh ngưng mọi công tác sản xuất và chuẩn bị dẹp tiệm. Đây là dấu hiệu thứ hai, cho biết sẽ có một cuộc chuyển trại lớn sắp đến. Lợi dụng lúc rảnh rỗi, anh Quỳ làm cho tôi một cái kéo hớt tóc. Cái kéo trông không đẹp mắt nhưng rất sắc bén vì nó được làm bằng loại thép dẻo của “nhíp” xe quân đội (Thanh thép có độ dẻo, dùng để giảm xóc cho xe). Mỗi khi chuyển trại đều có khám xét đồ đạc cá nhân. Cái kéo là vật bén nhọn sẽ bị tịch thu ngay. Vì thế, tôi phải cột cái kéo trên cánh tay, gần sát nách để qua mặt bọn cán bộ khám xét. Cái kéo này đã là phương tiện giúp tôi trò chuyện riêng tư với bạn bè trước mắt bọn ăng-ten (chỉ điểm) trong thời kỳ hắc ám nhất ở Trại 5 (hồ Thác Bà, Hoàng Liên Sơn). Thời kỳ đó, dù ở cùng đội, cùng tổ mà ngồi nói chuyện riêng giữa hai người hơi lâu một chút là sẽ bị ăng-ten báo cáo ngay. Có cái kéo, khi tôi muốn nói chuyện riêng tư với ai, tôi chỉ cần lôi anh ấy ra, vít đầu xuống hớt tóc; thế là nói chuyện thoải mái. Tụi ăng-ten, dù có biết ý đồ của tôi, cũng chẳng có lý do chính đáng để báo cáo.

Một số bạn cũ nhớ đến tôi cũng nhờ việc hớt tóc này; điển hình là anh Vũ Ngự Chiệu, hiện ở Houston, TX. Khi có số điện thoại của tôi, Chiệu gọi và nói rằng: “Khi nói đến Thái hớt tóc là tôi nhớ lại ngay hình dạng và cung cách của anh ngày ở Trại 5, vì tôi là khách hàng của anh mà.” Ấy vậy mà khi tôi e-mail cho anh tấm hình mới nhất của tôi, anh nói: “Thật không ngờ anh đã thay đổi nhiều quá! Nếu không được báo trước thì, tôi không thể biết người trong hình là anh đấy. Tôi bèn rà soát lại, từ trên trở xuống; bắt đầu từ tóc. Tóc anh bây giờ trắng phau trông như tiên ông, lại hói đầu nữa; ngày xưa anh đâu có hói. Anh lại đeo kính trắng, kết hợp với trán hói, trông có vẻ sa-văng lắm (tiếng Pháp, savant = thông thái). Khi nhìn tới cái miệng cười của anh thì thấy không thay đổi. Giả như anh không cười, thì chắc chẳng có gì là giống như xưa nữa. Hơn nữa, bây giờ anh phát tướng rồi; ngày xưa anh ốm tong ốm teo, bây giờ đầy đặn hẳn ra. Hai tay anh lại hơi khuỳnh ra như có vẻ đang kên xì-po (vênh mặt thách thức) người ta vậy.”

Tôi trả lời anh:

- Bây giờ tôi khác xưa là đúng thôi; ba mươi hai năm rồi chứ ít sao? (1976 – 2008). Hồi đó, sau khi hết mùa chặt nứa, tụi nó (Việt Cộng) kiểm tra sức khoẻ, tôi cân được 38 kg (84 pounds), hiện nay vì bị Đế quôc Mỹ bóc lột mà tôi cân được 132 pounds đấy.

Trong những ngày chờ chuyển trại, chiều chiều chúng tôi, từng nhóm, ra đi dạo trên “Đại Lộ Thống Nhất”, đông như đi trẩy hội. Không biết là sẽ bị đưa đi đâu, và tương lai sẽ ra sao, nhưng trước mắt là có được một thời gian thư giãn, thì cứ hưởng đi đã, rồi tới đâu hay tới đó.

No comments:

Post a Comment