Friday, May 22, 2026

VŨ THÀNH AN! ĂNGTENNE & CON NGƯỜI.

Nhắc lại lúc mới sang Mỹ, Vũ thành An không tìm được chổ để sống ở Cali sau khi đã làm (Antenne - Chỉ điểm) trong Trại tù CSVN như bài viết dưới đây cho thấy.

Sở dĩ Vũ thành An trôi dạt đến Thành phố Portland, Tiểu bang Oregon, là vì y được giới thiệu với Linh mục "Quạ đen - Cao Đăng Minh”.
Tên nầy tìm cách gởi gấm Vũ thành An cho Tòa Giám Mục và Giáo xứ Portland. Con "Quạ đen - Cao đăng Minh" có nhiều vợ và là liên lạc viên với CSVN.
Hiện nay, Cao đăng Minh về sống ở Việt Nam, có gia đình và dạy Anh văn cho các trường Trung học để kiếm sống! và tìm cách làm áp phe với "Băng đảng" của y còn sót lại ở Portland trong đó có Vũ thành An!
Trước 1975, Vũ thành An, sau khi nhập ngũ, chạy chọt được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 5 Quân Cảnh, đường Lý Thái Tổ Saigon, sau đó An biệt phái về làm Trưởng Ty Dân Vận Chiêu Hồi Tỉnh Gia Định, lúc đó Đoàn Hữu Định làm Giám Đốc Bộ Dân Vận & Chiêu Hồi.
Vũ thành An, học trường Yersin Đà lạt, cũng là bạn học với Hoàng Đức Nhã, em họ TT Thiệu! Hoàng Đức Nhã (sinh năm 1942). Từ năm 1968, ông làm Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí (Press Secretary) của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Từ tháng 4 năm 1973 ông làm Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi. Sau tháng 4-1975, ông làm cho một Tập đoàn Thương mại Mỹ, định cư ở Tiểu bang Virginia, sau đó về hưu sống ở Thành phố Chicago, Tiểu bang Illinois.
Hồi ở Việt Nam, vợ chồng Vũ Thành An đều theo đạo Phật, nhưng khi sang Mỹ thì Vũ thành An theo đạo Thiên chúa, còn bà vợ theo Tin Lành!
Niên khóa 1966-1967, trong giờ "Thème" của môn Pháp văn, Giáo sư Nguyễn Huy Đương (Nhạc phụ của nhà giáo Nguyễn Kim Dũng - được nhiều người biết với danh hiệu Nhà văn Thế Uyên – con người này sớm giác ngộ "Đạo đức Cách mạng Cộng sản" đã viết bài phản tỉnh từ Trại Tù Katum vào Noel 1975 trên tờ báo “Đứng Dậy” của Linh mục nằm vùng Nguyễn ngọc Lan.
Thế Uyên đã cho dịch câu nói của cô Mai trong tác phẩm "Nửa Chừng Xuân" của Khái Hưng, đoạn nói về bà Án, mẹ của Lộc! đang dụ dỗ cô Mai về làm vợ lẽ cho Lộc, vì bà Án cần đứa cháu trai để nối dõi tông đường. Cô Mai từ chối và trả lời như sau:
- "Bẩm thưa bà, nhà tôi không có Mả đi lấy lẽ."
Toàn thể học sinh lớp Đệ nhị B2 (lớp 11) của tôi không một ai dịch nổi nhóm từ "Mả đi lấy lẽ". Giáo sư Nguyễn Huy Đương gợi ý nên chuyển câu nói ấy qua một dạng khác thì người ngoại quốc (Âu Mỹ) mới có thể hiểu được!
- "Bẩm thưa bà! Truyền thống Giáo dục của Dòng họ tôi, không có dạy tôi đi làm vợ lẽ cho người ta"
Năm 1976, nghĩa là 10 năm sau, oái oăm thay! khi Thiếu tá Trần Văn Thảo đưa cho tôi tờ “Đứng Dậy” đọc bài phản tỉnh của Thế Uyên, tôi lại nhớ đến câu thoát dịch của Giáo sư Nguyễn Huy Đương, và tự hỏi sao Nhà văn Thế Uyên lại không trả lời được như cô Mai (ghi nhận là Thế Uyên uyên bác hơn cô Mai rất nhiều), đáng lẽ Thế Uyên phải nói:
- "Dạ! thưa ông cán bộ! (có thể là Thế Lữ hay Trưởng trại Cải tạo), nhà tôi không có Mả giác ngộ Chính quyền Cách mạng, nhất là hiện nay tôi không có Tự do."
Tiếc thay! Thế Uyên không có cái dũng cảm như cô Mai nên bài phản tỉnh ra đời. Kết quả hiện thực là Thế Uyên được rời Trại cải tạo rất sớm!
Trong quá trình hành tội những kẻ thua trận dưới dạng từ hoa mỹ "Học tập Cải tạo TỐT", người cộng sản luôn luôn đòi hỏi "Tù nhân" phải "Giác ngộ Chính sách và Đường lối".
Rất nhiều người hiểu sai chữ "Giác ngộ" của cộng sản !
"Giác ngộ" của cộng sản dùng không giống một chút nào với "Giác ngộ" trong Phật giáo. Thước đo của sự Giác ngộ là tố cáo một cách thành khẩn những tội lỗi, hay ý nghĩ của những người xung quanh mình để "Dâng" lên đảng cộng sản và chính quyền của nhân dân!
Giá trị của thước đo càng lớn thì "Cải tạo viên" mới được về với gia đình (tôi không dùng "được trả lại tự do" ). Thế Uyên được trả về sớm quá nên tôi không rõ mức độ "Giác ngộ" của Thế Uyên ra thế nào? có lẽ không nhỏ!
Nhưng tôi ngạc nhiên biết bao khi tháng 6/1984, trở lại Sài Gòn với gia đình, tôi vẫn chưa thấy ông Cựu Trưởng Ty Dân Vận Chiêu Hồi tỉnh Gia Định là Nhạc sĩ Vũ Thành An được trả về với gia đình.
Mãi đến năm 1987, trước khi tôi vượt biên vài tháng, tôi mới được tin Vũ Thành An được rời trại tù và được tạm cư ở Cư xá Thanh Đa.
Nhắc đến Vũ Thành An, nếu lấy 100 điểm làm thước đo cho cuộc thi mức độ "Giác ngộ" thì Vũ Thành An đạt 100/100 với lời khen tặng của Ban Giám Khảo!
Người bạn của tôi, cựu Đại úy Trần Văn Chính, nguyên Khóa 4 Biên Tập Viên Cảnh Sát, ở tù chung với tôi trong miền Nam, nhưng khi bị chuyển ra Bắc lại ở chung Trại với Vũ Thành An, đã nói rằng Vũ Thành An là Ăntenna nguy hiểm nhất! đã từng hại rất nhiều chiến sĩ của ta.
Có người lại bảo Vũ Thành An đâm sau lưng chiến sĩ, nhưng anh Trần Văn Chính lại bảo rằng:
- "Hắn đâm đàng trước nhiều hơn đâm sau lưng. Tôi thì góp ý như sau:
-"Bố mẹ đặt tên hắn là Vũ Thành An, nhưng sau gần mười năm tù với thành tích ác ôn, ta phải gọi là Vũ Thành An-ten-na mới đúng!". Vậy từ đây trở về sau, tên được gọi là Vũ Thành An và tên gọi được là Vũ Thành An-ten-na”?
Con người hiện hữu luôn luôn bao hàm hai phần: Tiên thiên và Hậu thiên.
Tiên thiên là phần trời cho, Hậu thiên là phần ảnh hưởng bởi môi trường sinh sống. Vũ Thành An có phần Tiên thiên khá tốt: mắt sáng, nguòi cao (cỡ 1.85m), tài hoa (có Khoa bảng và làm Nhạc có hồn), nhưng có lẽ phần Hậu thiên không khá mấy!
Vì không có một ông thầy nào cũng như không có một Chương trình giáo dục nào của người quốc gia VNCH dạy con người đi làm Ăntenna hại người thân, bạn bè và chiến hữu! cả (cộng sản thì có: đó là chính sách căn bản cho sự đấu tranh giai cấp).
Vậy thì chỉ còn giáo dục gia đình là có ảnh hưởng, chả lẽ "Dòng họ của Vũ Thành An có Mả đi làm Antenna?"
Tự điển Webster định nghĩa về Antenna như sau:
- A movable segment organ of sensation on head of insects, myriapods and crustaceans (tạm dịch : cơ quan về cảm giác có nhiều đoạn khúc có thể chuyển động được, ở trên đầu các loài côn trùng, loài đa túc và loài giáp xác).
- A usual metalic device (as a rod or wire) for radiating or receiving radio waves (tạm dịch: thiết bị bằng kim loại thường dùng cho các làn sóng bức xạ hay nhận làn sóng vô tuyến - có thể là một thanh sắt hay bằng dây).
Đại đa số anh em Tù nhân Chính trị và đồng bào miền Nam hiểu về Antenna qua định nghĩa thứ hai, ít ai để ý đến định nghĩa thứ nhất, ngoại trừ những Chuyên viên Nông nghiệp và các Giáo sư dạy môn Vạn vật.
Thật vậy hầu hết các loài côn trùng đều có Antenna mà chúng ta thường gọi là "Râu" như các loài bướm, cào cào, châu chấu, dán, dế...Các loài đa túc như kiến, cuốn chiếu, rết... cũng có Antenna.
Loài giáp xác như tôm, cua... cũng có Antenna. Chúng dùng Antenna để truyền thông cho nhau, trong khi thiết bị bằng kim loại ở định nghĩa thứ hai hoặc chỉ là phát sóng hoặc chỉ nhận sóng chứ không vừa phát vừa nhận như Antenna của sinh vật.
Bọn Việt Cộng (Việt nam Cộng Sản) - dù là kẻ chiến thắng! vẫn bị thua trận và nhân dân miền Nam coi là "Loài sâu bọ lên làm người", sự miệt thị này không phải xuất phát từ sự ghen tức, mà chính là sự quá ngu dốt của Tập đoàn Lãnh đạo CSVN từ thượng tầng Trung ương đến hạ tầng Cơ sở.
Điều tôi muốn nói ở đây là chỉ có bọn "Sâu bọ lên làm người" mới truyền thông được với bọn "Côn trùng học lên làm người" như Vũ Thành An-ten-na, Cung Củ Đậu, Nguyễn Minh Đăng...
Chính miệng Vũ Thành An đã phát biểu để minh chứng cho nhận xét của tôi. Tôi không hề bầy đặt và gán cho thân phận của Vũ Thành An là "Côn trùng học làm người".
Chúng ta hãy đọc lại đoạn hồi ký sau đây của Đại úy Trần Văn Chính (tôi cũng liệt kê vào đây một số nhân chứng như:
- Cựu Dân biểu Trương Vị Trí.
- Cựu Phó Tỉnh trưởng Trần Huỳnh Thanh.
- Cựu Trung Tá Nguyễn Lô - Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đ. 7 Nhảy dù, - Cựu Thiếu tá Văn Hiệp Vân - Trưởng F Cần Thơ.
- Cựu Thiếu tá Trần Văn Hên - khóa 19 trường Võ Bị QGVN.
- Cựu Thiếu tá Nguyễn Văn Tăng - Trưởng F Vũng Tàu ...
[Trích đoạn]..." Đêm 30 tháng 12 năm 1980, trong không khí lạnh lẽo của núi rừng tỉnh Bắc Thái, Trại tù Phú Sơn tổ chức đón giao thừa. Sân khấu được dựng trong sân Trại tù.
Phía dưới sân khấu khoảng trên 2,000 tù nhân thuộc thành phần Quân, Cán, Chính của VNCH ngồi lặng lẽ trên sàn đất. Phía sau đó, xa hơn một chút, 22 vị Linh mục bị cô lập ngồi co ro vì lạnh. Sau chót là những hàng ghế dành cho bọn Công an coi tù đang, đa số ngồi kiểu nước lụt - nghĩa là cho cả 2 chân lên ghế!)
Tiếng đàn nổi lên cùng giọng Sáo của Tô Kiều Ngân thì Vũ Thành An xuất hiện, quỳ gối, đôi tay giang rộng, thành kính kêu mừng:
"Ôi! tôi không hiểu hạnh phúc này hôm nay vì sao mà tôi có? Đó là nhờ công ơn trời biển của Bác và Đảng, nhờ công ơn của Cách mạng mà tôi mới được thành Người !"[Ngưng trích]
Vũ Thành An đậu Cử nhân Văn Khoa! không rõ ban nào, tuy nhiên sau này được chuyển về Tổng Ủy Dân Vận và đảm trách chức vụ Trưởng Ty Thông Tin Dân Vận tỉnh Gia Định, chắc trình độ lý luận cũng không đến nỗi kém?
Vậy xin hỏi mãi đến năm 1980, An mới biết "Được thành Người" . Thế thì từ lúc được bà mẹ sinh ra năm 1942 đến năm 1972 là lúc làm Trưởng Ty Dân Vận & Chiêu hồi, Vũ Thành An có biết mình là cái gì không? Hay là tuổi của Vũ Thành An là tuổi con Gián, không nằm trong thập nhị chi?
Hỏi tức là trả lời: trước năm 1980, Vũ Thành An là "Côn trùng học làm Người", nhờ được giáo dục bởi bọn "Sâu bọ lên làm người" nên đêm giao thừa năm 1980 mới thành kính kêu lên vui mừng
- "Tôi mới được thành Người". Tuy nhiên, phút biến hình đó ngắn quá! (có một đêm so với 38 năm tính từ năm 1942 đến năm 1980) nên Antenna của cốt Côn trùng vẫn còn dính trên đầu của Vũ Thành An.
Trong tác phẩm "Người đàn bà bên kia vĩ tuyến", nhà văn Doãn Quốc Sỹ có viết về một người đàn bà tên Diễm - qua lời phát biểu của Trung úy Luận:
- "Tao thấy Elle có tiếng kêu siêu âm của loài cái đang mời gọi loài đực!".
Nhưng theo Giáo sư Tôn Thất Trình - nhà Nông học nổi tiếng của miền Nam, hai lần làm Tổng Trưởng Bộ Canh Nông - loài côn trùng khi đến giai đoạn sinh trưởng, giống cái tiết ra mùi quyến dụ giống đực đến để làm công tác truyền giống, chớ côn trùng không phát ra tiếng kêu siêu âm.
Giáo sư Tôn Thất Trình gọi mùi quyến dụ của côn trùng giống cái là "Nhục tình Hương". Và để bắt mùi được "Nhục tình Hương" của giống cái, những con côn trùng giống đực đã dùng tối đa khả năng cảm nhận của chúng là Antenna.
Hai con vật khác nổi tiếng trong lãnh vực khứu giác là con Chó và con Cá mập: lỗ mũi của Chó thật siêu đẳng, nó có thể bắt được mùi của ma túy khi bất cứ chất này được gói dấu kỹ cỡ nào?
Con Cá mập cũng ghê gớm không vừa gì? chỉ cỡ 1/50 của giọt máu rơi xuống đại dương trong vòng bán kính 3 miles, các con Cá mập đã đánh hơi được để lao tới kiếm ăn rồi!
Tuy nhiên 2 con vật này không có Antenna, do đó những bọn làm Antenna như Vũ Thành An, Nguyễn Minh Đăng, Cung Củ Đậu... chỉ đáng ở cấp độ Sâu bọ, Côn trùng... chứ chưa đủ cấp độ để bước lên hàng Thú vật!!
Trong quyển sách Nông Học Đại Cương, chương Bảo Vệ Mùa Màng, Tác giả Tôn Thất Trình có đề cập nhiều phương pháp diệt côn trùng, phương pháp nào cũng có mặt yếu mặt mạnh:
Phương pháp Hóa học thì rất hữu hiệu, nhưng lại làm thay đổi Sinh thái và ảnh hưởng Lưu độc đến sức khỏe của con người, đo đó các nhà nghiên cứu phải thay đổi phương pháp hoặc kết hợp, hoặc luân phiên...
Người ta đã tổng hợp được một số "Nhục tình hương" của một số côn trùng, để phết chất "Nhục tình hương tổng hợp " này nhằm bắt giết những côn trùng bằng bẫy, ít gây độc hại đối với sức khỏe con người.
Tuy nhiên giá cả của "Nhục tình hương tổng hợp" còn cao, nên chỉ có nông gia nhà giàu như Hoa Kỳ, Nhật Bản... mới đủ khả năng sử dụng...
Trong kỹ nghệ "Trại cải tạo", bọn "Sâu bọ lên làm người" là Cộng Sản Việt nam cũng có "Nhục tình hương" là các chức vụ Đội trưởng, Thi đua Văn-Thể-Mỹ, Học tập Cải tạo Tiên tiến...đã quyến dụ được những tên "Côn trùng học làm người" sử dụng Antenna để tấu trình mọi hành động, lời nói và ý nghĩ của các bạn đồng tù cho bọn Công an Cai tù.
Ngay từ khi nhập Trại Long Thành, Vũ Thành An đã tỏ ra một tên "Đầu hàng Giai cấp", đã đem tâm huyết ca tụng Hồ chí Minh và đảng Cộng Sản. Vũ Thành An có học nên nên trình độ làm Antenna cao cấp hơn! khéo léo hơn.
Trên chuyến tàu chuyển Tù nhân VNCH từ Nam ra Bắc, Bác sĩ Dân biểu Trần Cao Đễ đã mắng Vũ Thành An về cái tội làm Tay sai và làm Antenna (Bác sĩ Trần cao Đễ hiện mở phòng mạch tại ở Orange County, California).
Ra đến Trại Phú Sơn 4 tỉnh Bắc Thái, Vũ Thành An được bọn Việt Cộng cho làm Đội trưởng Đội cờ đỏ (Đội 1). Cựu dân biểu Trương Vị Trí - tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chánh, người Dân biểu trẻ tuổi nhất của Hạ Nghị Viện VNCH thời bấy giờ, đại diện đơn vị bầu cử số 5 tại Sài Gòn, - ở Đội nhà bếp, là người cân đo, khoai, sắn cho các anh em tù bị nghiêm giam (Vi phạm Nội quy).
Ông thường cân nhiều hơn tiêu chuẩn bình thường của Công an, Vũ Thành An đã báo cáo hành vi của ông cho bọn Việt cộng cai tù, Cải tạo viên Trương Vị Trí bị bắt quả tang về tội cho Tù nghiêm giam hưởng tiêu chuẩn cao hơn người Lao động, nên bị thi hành kỷ luật, và sau đó bị tống ra khỏi Đội nhà bếp. (cựu Dân biểu Trương Vị Trí hiện định cư ở Tiểu bang Florida).
Cựu Thiếu tá Không Quân Nguyễn Văn Cừ, nguyên Dân biểu đơn vị Nha Trang, người cùng với Phi công Phạm Phú Quốc năm 1962 đã oanh tạc Dinh Độc Lập của Tổng Thống Ngô Đình Diệm bằng Phi cơ Skyraider AD-6, đã bị Vũ Thành An báo cáo thêu dệt và chèn ép đủ điều!
Vì ngoài chức vụ Thiếu tá và Dân biểu, Vũ Thành An có biết Thiếu tá Cừ hoạt động trong VNQDĐ - là đảng khắc kỵ với đảng CSVN. Thiếu tá Nguyễn Văn Cử hiện cư trú tại 4270 Albany Dr # 214 - San Jose - CA 95129, nếu Vũ Thành An cho rằng tôi hiểu sai hành vi của An, xin cứ thư cho Thiếu tá Nguyễn Văn Cử ở địa chỉ trên.
Sau một thời gian lập công, bọn Việt Cộng cất nhắc Vũ Thành An lên làm "Thi đua". Đây là chức vụ tương đương với Tổng Đội Trưởng. Vũ Thành An đã câu kết và điều khiển một số Đội trưởng ác ôn khác thi hành những sáng kiến của y như là:
- Thi đua Lao động trong ngày nghỉ, Thi đua Học tập và Kiểm điểm Thành tích mỗi đêm.
Nhóm tay sai dưới trướng Vũ Thành An có thể kể - cựu Dân biểu Nguyễn Minh Đăng, cựu Bác sĩ Dân biểu Nguyễn Văn Ngân, cựu Nghị sĩ Khiếu Thiện Kế... (tên Khiếu Thiện Kế tỏ ra xu nịnh một cách hèn hạ! nhưng không làm Đội trưởng).
Đại Tá Sơn Thương khi còn là Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân đã nổi tiếng ở miền Trung vào năm 1964 tại trận Ba Gia và Thạch Trụ, sau này lên Trung Tá ông về làm Tiểu khu Phó tỉnh Vĩnh Bình, và chức vụ sau cùng khi ông lên Đại Tá và giữ Chức vụ Giám Đốc Nha Miên Vụ.
Ở trại Phú Sơn 4, vì thiếu dinh dưỡng, yếu sức! nên ông khai bệnh để nghỉ lao động, khi Thiếu tá Đặng Hữu - Công an Việt cộng làm Phân trại Trưởng - cho phép mọi người được trích từ tiền lưu ký để mua thêm 1kg khoai mì (trại tù bán cho người tù tính bằng tiền của tù, chứ không cho miễn phí!) thì Vũ Thành An và Nguyễn Minh Đăng không cho Đại tá Sơn Thương mua, vì chúng nói rằng ông không có đi lao động!
Đã thế chúng còn tập họp kiểm điểm hàng đêm đem Đại tá Sơn Thương ra đấu tố, nào là ông không có tinh thần giác ngộ, nào là ông có tinh thần chống đối lao động, đi ngược với chính sách khoan hồng của đảng cộng sản, nào là ông nghỉ bệnh nhiều quá! nên Đội mất điểm Tiên tiến, không đạt được danh hiệu "Cờ đỏ" khiến ảnh hưởng đến Quá trình Cải tạo Tốt của người khác v.v...
Một phần vì là gốc người Khmer, một phần là Chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, Đại tá Sơn Thương không đủ ngôn từ để đáp lại bọn "Mồm loa Mép giải" Vũ Thành An và Nguyễn Minh Đăng, cho nên bị quá căng thẳng! và ông đã tự vẫn.
Còn tên Bác sĩ Dân biểu Nguyễn Văn Ngân, lúc đầu bọn Việt Cộng cho làm "Y vụ", hắn ăn cắp thuốc tiêu chuẩn của Trại cấp để chữa trị cho tù nhân, đem mua bán đổi chác, hay dâng làm quà cho bọn việt cộng, bị bắt quả tang, bị mất chức "Y vụ" nhưng được lên làm Đội trưởng.
Tên Đội trưởng Ngân này đã ăn cắp một gói sữa bột của một người trong Đội và ăn cắp nhiều món đồ vật khác của anh em. Bị phát hiện, nhưng có sự bao che của Vũ Thành An nên tên Ngân vẫn làm Đội trưởng mà không có bị cảnh cáo hay bị khiển trách gì? Trong khi đó, chúng tiếp tục gia tăng sự báo cáo với bọn Cai tù.
Chuyện đói trong Trại tù Cộng sản là điều hiển nhiên, nên anh em đi lao động thường hay ăn khoai mì sống (không luộc được), bọn Vũ Thành An cũng báo cáo không sót một ai?
Bác Đăng - anh ruột của Bộ trưởng Cao Văn Tường - Bộ trưởng Đặc trách Liên lạc Quốc hội - nhiễm trùng trong tai, ném bông gòn ra đường, cũng bị Khiếu Thiện Kế đấu tố hết mấy đêm.
Khi chuyển trại từ Phú Sơn về trại Thanh Phong tỉnh Thanh Hóa, Vũ Thành An sợ bị anh em đầu độc nên xin với bọn Quản giáo Việt cộng được ăn riêng: Vũ Thành An tự biết mình là VIP quá quan trọng!
Tại trại Phú Sơn 4 tỉnh Bắc Thái, "Côn trùng học làm người" Vũ Thành An cho biết ý kiến thế nào về cái chết tự vẫn của Đại tá Sơn Thương?
Ý kiến thế nào về những nhục hình, những lăng mạ, những trừng phạt... của bọn Cai tù đối với một số bạn đồng tù (một số đã chết, một số còn lại ở Việt Nam, một số đã qua Hoa Kỳ diện H.O!).
Những đau đớn kéo dài về Thể xác và Tinh thần của những Cải tạo viên không thể hóa giải một cách nhẹ nhàng như lời phát biểu nhẹ như lông vịt của Vũ Thành An ở Nam Cali khi con côn trùng này ra mắt những thính giả yêu những "Bài ca Không tên":
- "Tôi xin lỗi các anh em, trong những lúc yếu lòng..."
Phân tích câu nói của Vũ Thành An, tôi thấy có một số khúc mắc:
Thứ nhất, lỗi không phải của anh em! cho nên Vũ Thành An không thể xin về cho mình được. Cho rằng vì quen miệng nên nói sai, ý của Vũ Thành An là:
- "Xin các anh tha lỗi cho tôi!", thì các anh em nạn nhân của Antenna đã có ai lên tiếng đồng tình tha lỗi cho Vũ Thành An chưa?
Học giả Nguyễn Hiến Lê, nói rằng:
Đồng ý và Đồng tình khác nhau! Đồng ý là bằng mặt chưa bằng lòng. Còn Đồng tình là vừa bằng mặt vừa cả bằng lòng. Cho rằng một số anh em ở Hoa Kỳ đồng ý tha lỗi cho Vũ Thành An đi nữa! thì còn lại số khuất mặt (bao gồm người chết, người còn ở Việt Nam, những người ở các quốc gia khác) tính làm sao?
Điểm thứ hai, Vũ Thành An nói:
- "...Trong những lúc yếu lòng!..." là Vũ Thành An không thành thật. Trong Luật pháp, một hành vi phạm tội được lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài và lặp đi lặp lại một cách có Hệ thống, có bài bản thì bị kết án với trường hợp gia trọng là có Cố ý!
Nếu chấp nhận lời nói của Vũ Thành An thì hóa ra từ khi "Đi cải tạo" tháng 6- 1975 đến tháng 6-1987, Vũ Thành An yếu lòng đến 12 năm! Thế lúc nào là lúc vững lòng?
Có phải Vũ Thành An vững lòng khi "Được trở lại đạo Công giáo" và được sự che chở của các vị Linh mục ?
Vũ Thành An đã tự sát sinh mệnh lịch sử của mình khi cam tâm đem thân làm tay sai cho lũ "Sâu bọ lên làm người". Các vị Linh mục lúc nào cũng rộng lượng, bác ái, bao dung...mở rộng vòng tay đón nhận mọi con cái của Chúa.
Công trạng hay tội lỗi chỉ được Minh xử bởi Chúa Trời vào Ngày Phán Xét Cuối Cùng.
Chúng tôi - những cựu Tù nhân Chính trị- một số là Tín hữu Công giáo, một số là tín đồ các tôn giáo khác, lên tiếng với Linh mục Nguyễn Huy Tưởng - Chính xứ nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Thành phố Garland -Texas, nhân dịp ngày 11- 11 sắp tới đây- kỷ niệm Lễ Ngân Khánh của Ngài, Vũ Thành An sẽ trình diễn văn nghệ.
Vì luật pháp Hoa Kỳ, vì tình Bác Ái của Ki Tô, vì chúng tôi không muốn trồng "Nhân" xấu cho "Nghiệp" của mình... chúng tôi tạm "Forget" những hành vi của Vũ Thành An trong quá khứ! nhưng chúng tôi không bao giờ "Forgive" cho động cơ thúc đấy Vũ Thành An gây nên tội phạm ấy!
Những tên tội phạm khác - tội lừa thầy phản bạn, một số chịu ở lại Việt Nam, một số khác qua Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada... đều im hơi lặng tiếng để sống hết kiếp, để dành thời gian còn lại trong quãng đời ăn năn hối hận.
Chúng tôi cũng chấp nhận "Forget " họ. Nhưng một số Linh mục có thể không phân biệt sinh mệnh Nhục thể với sinh mệnh Lịch sử nên đã cho phép Vũ Thành An dùng tài năng âm nhạc để xuất đầu lộ diện trở lại, nhằm làm hồi sinh "Sinh mệnh Lịch sử đã chết của Vũ Thành An".
Xin các Linh mục hãy suy nghĩ cho kỹ về ý kiến của chúng tôi. Tôi tin rằng quý vị Linh mục chỉ muốn bao dung chấp nhận Sinh mệnh Nhục thể của Vũ Thành An, chứ quý vị không muốn phục sinh "Sinh mệnh lịch sử đã chết của Vũ Thành An"?
Nữ ca sĩ Thanh Lan khi mới đến Hoa Kỳ, hớ hênh tuyên bố có lợi cho Cộng sản, bị Ủy Ban Chính Nghĩa Quốc Gia và các Cộng đồng Người Việt Tỵ nạn Cộng sản khắp nơi trên đất nước Hoa Kỳ phản đối.
Sau đó, Thanh Lan xin tỵ nạn và được Cộng đồng chấp nhận vì từ 30-4-1975 trở về sau, cô không có làm Antenna cho bọn Việt Cộng.
Trong khi đó, Vũ Thành An là một tên phản bội, tay sai rõ ràng của Cộng sản Việt Nam - sắp sửa đến trình diễn tại vùng Dallas - Texas thì lại không thấy Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam hải ngoại lên tiếng gì cả!
Các ông các bà trong Ban Đại Diện đang bận ngủ! hay đang bận đấu đá nhau nên quên "Dịch côn trùng Vũ Thành An" sắp kéo đến vùng Dallas hay sao ?
Xin quý vị thức tỉnh để làm việc chung cho đồng bào?
Arcadia, California ngày 11-01-1995
TRẦN TRUNG CHÍNH.
********
Ps: Nhắc đến làm Antenna trong trại tù thì nhiều lắm! nhưng bản thân Đức tui cũng có làm Antenna dzậy, xin thành thật khai báo:
Trong thời gian tù ở Trại Cồn Tiên khoãng năm 1978, có một đêm cán bộ Trại gọi lên và nói:
- Trại xét thấy anh có tiến bộ trong học tập tuy nhiên chưa đủ! bây giờ Trại giao nhiệm vụ cho anh là giúp cho mọi người cùng tiến bộ bằng cách là anh phải ghi nhận các biểu hiện thái độ, tư tưởng lời nói việc làm của anh em chung quanh không đúng theo Nội quy Trại rồi báo cáo lên Trại để giúp đỡ cho anh em đó thấy cái sai trái ...
Đứng một mình với đám Cán bộ coi tù đang lườm lườm ban đêm ở trên Trại, Đức tui chỉ biết vâng! Vâng! rồi khi Trại cho về Lán làm việc, anh em trong Đội chờ xem Đức tui có bị Trại mần thịt như những lần trước không?
Ngay lúc đó Đức tui xin anh em chú ý và biết việc phải làm:
- Xin thông báo cho các bạn là tui mới được Cán bộ gọi lên và giao nhiệm vụ là: GIÚP ĐỞ ANH EM TIẾN BỘ! cho nên từ bây giờ trở đi anh em phải chú ý và cẩn thận đừng phát ngôn linh tinh, đứng cải thiện mua bán đổi chác khi có mặt tui nhé! nhớ cho kỹ và nhắc nhở cảnh giác nhau khi thấy mặt tui nhen!
Vừa nói xong thì đột nhiên có tên Vệ binh từ ngoài bước vào chỉ mặt tui hét lên:
- "Mày lên trại với tao!"
Lạ nhỉ mới đó đã thay đổi từ: ANH ĐỨC thành MÀY liền!
Sau khi ăn mấy cú đấm đá đau điếng! tui mới nói là tui đâu có mần gì sai đâu? thì Cán bộ bảo sao tui mần dzậy thôi!

NOEL Ở CẨM-NHÂN

Tháng 7 năm 1976 tàu Sông Hương cập bến Hải-Phòng. Chúng tôi, khoảng ba ngàn tù cải tạo, cựu sĩ quan của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, được chuyển lên tạm nghỉ một ngày ở Sáu-Kho.
Trong chuyến đi này, đội ngũ hành khách tù binh đã hao hụt mất hai người. Một người bị trượt chân, rớt từ sàn tàu xuống nước chìm luôn ở Tân-Cảng, Sài- Gòn đêm khởi hành. Người thứ nhì chết trên tàu giữa biển khơi.
Trước đây, trong tháng 6 năm 1976, cũng đã có vài chuyến tàu chuyển tù, ghé bến Sáu-Kho. Nhưng trí tò mò của dân địa phương, nhất là những đứa trẻ con, vẫn bị lôi cuốn bởi hình ảnh khác thường của đoàn hành khách mới tới.
Người từ phương Nam ra, đi từng cặp một, tay trái của người đi bên phải, còng với tay phải của người đi bên trái. Mọi người vai mang nặng, mặt mày buồn rầu, xanh xao, thân hình gầy gò, tong teo. Họ nối đuôi nhau đi thành hàng im lặng, cúi đầu không nhìn ai. Hai bên là những họng súng AK với lưỡi lê tuốt trần. An ninh thật là nghiêm ngặt.
Ðoàn tù được lùa vào khu đất rộng, có sáu cái nhà vòm dài và cao bằng tôn. Xung quanh khu nhà vòm này là bãi cỏ cháy khô, hôi thối, vì đây là bãi đại tiện lộ thiên, công cộng, của xóm dân cư lao động gần đó. Quanh đây, dày đặc hố bom B 52 khổng lồ. Nước trong hố bom màu cà phê sữa lợt, mặt nước lác đác bèo tấm.
Sau khi được cởi khóa cái còng, tôi gởi ba-lô cho anh bạn tù Ngô Văn Niếu giữ giùm. Tôi lang thang trên sân cỏ Sáu-Kho, rồi tạt vào căn nhà vòm của những tù binh cấp úy. Vừa bước qua cửa đã có người nhận ra tôi rồi. Anh ta ôm chầm lấy tôi, xuýt xoa,
– Thái Sơn! Anh còn sống ư? Ðộ đây! Em nghe đồn anh chết ngày Ba Mươi. Vậy mà anh còn đây. Ôi! Mừng quá! Anh ngồi xuống đi!
Anh Phạm Xuân Ðộ là đại úy sĩ quan chỉ huy hậu cứ của Liên Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân. Chúng tôi quen nhau lâu lắm rồi, từ ngày Ðộ mới từ Lực Lượng Ðặc Biệt chuyển sang Biệt Ðộng Quân.
Ðộ cầm tay tôi, cao giọng giới thiệu với bạn của anh ta,
– Ðây là Thái-Sơn, đàn anh của tớ. Xin giới thiệu với các bồ, để các bồ quen biết một đàn anh, đúng nghĩa một đàn anh.
Nghe anh Ðộ quảng cáo ồn ào như thế, những người bạn của anh ta liền tỏ thiện cảm với tôi ngay. Họ kéo tôi ngồi xuống manh chiếu góc nhà. Họ mời tôi hút thuốc lào. Họ tíu tít hỏi tôi ở trại nào trong Nam? Tôi có quen, có gặp người này, người kia hay không?
Sau khi quân đội ta tan rã, nhiều cấp chỉ huy trở thành những cái bia hứng chịu phỉ nhổ của người dưới. Tuy thế, cũng có nhiều cấp chỉ huy trở thành nỗi luyến tiếc cho thuộc cấp, mỗi khi họ nói về kỷ niệm một thời đã qua.
Cũng may, cái cung cách chỉ huy nghiêm khắc tại mặt trận và thân ái hòa đồng ở hậu cứ của tôi, không làm thuộc cấp ghét bỏ hay hận thù.Vì thế mà hôm ấy, ở một nơi nghìn trùng xa Sài- Gòn, vào cái thời buổi không còn gì nhục nhã hơn, thật khó tin còn có người lễ phép mời mình ngồi uống ly cà phê nấu bằng cơm cháy pha với đường thẻ, rồi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm oanh liệt, vàng son.
Một người vừa sà xuống chiếu, nhìn tôi gật đầu chào thân thiện. Tôi vội vàng gật đầu chào lại.
Người sĩ quan này da ngăm ngăm. Má anh ta có cái nốt ruồi bằng hạt đậu. Dáng anh ta quen quen… Tôi ngờ ngợ đã gặp anh ta ở đâu đó?
Anh bạn mới, giọng Bắc trầm trầm, tự giới thiệu,
– Tôi tên là Trần Gia Toản, “Toản Thuốc Lào”. Tôi là em ruột của Trần Gia Toàn cùng khóa với anh. Tôi là bạn thân của Ðộ. Tôi có rất nhiều bạn Biệt Ðộng Quân. Bạn tôi ai cũng thương anh và phục anh lắm. Tôi đã nghe tên anh nhiều lần. Nay có dịp gặp anh, thật là hân hạnh.
Tôi chợt hiểu, thì ra anh ta là em ruột của Trần Gia Toàn, bạn cùng Khóa 20 Võ Bị của tôi. Anh em nhà này giống nhau quá, hèn nào tôi thấy anh ta trông quen quen…
Những người tuổi trẻ thích nói thật, không vòng vo, quanh co. Hiểu nhau rồi thì chúng tôi dễ trở thành thân. Từ hôm ấy tôi có thêm một số bạn.
Những người bạn mới lấy mì gói ra, giấy bao mì gói trở thành củi, cái lon Guigoz trở thành nồi, vỉ cơm cháy trở thành cà phê.
Bỗng nhiên, tôi thành người khách quý của nhóm bạn tù cấp úy trong góc một căn vòm Sáu-Kho hôm ấy.
Ăn mì xong, chúng tôi chuyền tay nhau ca cà phê cơm cháy. Uống cà phê mà không kèm theo khói thuốc thì không đúng “gu”. Anh em mời tôi hút thuốc lào.
Khi biết tôi chưa tập hút được thuốc lào, thì chỉ nháy mắt sau tôi đã có một bao thuốc lá Sài- Gòn Giải-Phóng.
Qua trao đổi với họ, tôi được tin tức của vài sĩ quan cấp úy cùng đơn vị như chú Lý Ngọc Châu, chú Trần Cao Chánh, chú Nguyễn Ngọc Khoan…
Tôi cũng có tin những bạn cũ đã chết vì vượt trại như Quách Hồng Quang và Phạm Hữu Thịnh.
Buổi chiều, chúng tôi bị lùa xuống các hố B52, nước màu cà phê sữa, để tắm rửa. Lúc lên bờ, đỉa đói còn bám từng chùm, lủng lẳng trên vế trên đùi, chúng tôi giựt mãi chúng không chịu nhả ra.
Sau khi được phát mỗi người một gói lương khô Trung-Cộng, đoàn tù được lệnh chuẩn bị đội ngũ chờ xe lửa để lên đường. Nghe đâu, người ta sẽ đưa chúng tôi lên mạn ngược, vùng biên giới Trung-Hoa, thuộc tỉnh Yên-Bái, Thái-Nguyên, Tuyên-Quang…
Chuyến xe lửa Hải- Phòng Yên- Bái khởi hành lúc nửa đêm.
Chúng tôi được dồn lên những toa chở súc vật. Cứ bốn mươi người một toa, khóa trái bên ngoài. Diện tích của toa xe chỉ đủ chỗ cho chúng tôi ngồi hoặc đứng chứ không thể nằm. Mỗi toa có bốn cái cửa tò vò to bằng bàn tay xoè nơi bốn góc.
Tôi chui vào chiếm một góc và thò mũi ra lỗ cửa tò vò để thở. Ngồi kế tôi là Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn nguyên tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân. Thiếu tá Mẫn là vị tiểu đoàn trưởng già nhất của liên đoàn tôi. Ông Mẫn với tôi thương nhau như anh em.
Xe chạy được khoảng một giờ thì không khí trong toa bắt đầu ngột ngạt.
Lúc lên xe, trưởng đoàn vệ binh có chỉ định anh cựu Ðại úy tên là Thu làm trưởng toa.
Từ đầu hôm, anh Thu chiếm cái góc có thùng phuy vệ sinh. Giờ này, thùng cứt đái bắt đầu bốc mùi. Anh Thu bước tới góc cuối toa, và ra lệnh cho tôi nhường chỗ cho anh.
Tôi chưa kịp phản ứng thì anh Thu đã dện một đạp vào mặt ông già Mẫn để dành cái cửa sổ. Lúc đó ông Mẫn đang ghé mũi vào cửa tò vò hít khí trời.
Ông Mẫn vừa ôm mặt khóc, vừa chửi rủa.
Anh Thu có dáng dấp của một võ sĩ. Anh không cao lắm nhưng rất “đô” con.
Anh cởi áo và vắt những dòng mồ hôi vừa nóng vừa nồng trên đầu tôi vì lúc đó tôi ngồi dưới chân anh. Rồi anh ngồi xuống bên tôi, thò mũi ra lỗ tò vò. Mồ hôi của anh nồng kinh khủng. Tôi nhè nhẹ đẩy anh ra xa tôi một chút.
Anh hậm hẹ,
– Ðù mạ! Lộn xộn ăn đòn à con! Mày nhỏ con, tao cho ngồi cạnh để đỡ choán chỗ. Biết điều thì ngồi êm! Cục cựa ông bẻ răng à!
Anh Thu ngồi chồm hổm, nách anh choàng qua gáy tôi. Mùi hôi nách làm tôi tắc hơi. Tôi lách đầu cho mũi tôi ghé vào một góc cửa sổ. Tôi hít lấy, hít để cái không khí thơm mùi đòng đòng, lúa mới ngoài kia.
Chợt anh tù trưởng toa hẩy mạnh vai, mặt tôi đập vào thành xe nghe “kịch!” một cái, đau tới hoa cả mắt.
– Ê! Ê! Ê!… anh này chơi ác quá vậy?
Trong lúc quýnh quáng, tôi quýu lưỡi, nói xàm như một đứa bé.
Chưa xong, hai bàn tay hộ pháp của tên du côn chẹt cổ tôi, tống tôi vào góc xe,
– Ngồi im! Cục cựa ông bóp chết!
Tôi chợt cảm thấy có cái gì đó ứ nơi cổ.
Mặt tôi nóng dần. Tay tôi run run. Tôi hít vào một hơi dài, rồi thở ra từ từ.
Tôi ra chiều ngồi êm, nhưng tay tôi mò tìm… mò tìm…
Tôi tìm được nó rồi! Cái nĩa U.S bằng inox, tôi cài nó trong cái túi bên hông ba lô…
Cú đâm quyết định bị trệch mục tiêu vì thế ngồi quá chật. Cái nĩa đâm sượt mắt trái của anh võ sĩ, rạch một vết rách sâu trên trán anh.
Tay trái tôi hất mạnh một cái cùi chỏ ngay cằm anh.
Anh chưa kịp la lên thì cái nĩa đã nằm dưới yết hầu.
Tôi ghì ngược cái nĩa bằng cả hai tay ngay yết hầu kẻ thù.
Nhiều lần đánh lộn thời học sinh, cũng như trong chiến trận sau này, tôi đã áp dụng thành thạo những đòn cận chiến học từ tuổi lên mười ở Trung-Tâm Huấn-Luyện Nhảy Dù Chèm Vẽ (1951-1954).
Hồi đó nhà tôi ở sát cạnh bãi tập thể chất của lính Nhảy Dù Liên Hiệp Pháp trước cổng Ðông làng Vẽ.
Ngày ngày chứng kiến tân binh Nhảy Dù học cận chiến, tôi thuộc nằm lòng những thế dao găm đâm ngang, đâm dọc, đâm ngược, đâm xuôi…
Hơn hai mươi năm sau, trong một góc toa xe chở súc vật, tôi phải sử dụng cái thế đâm ngược lợi hại này, với một cái nĩa, để hạ một đồng đội.
Tôi chỉ cần nhấn mạnh thêm năm phân, rồi xoay hai tay theo chiều kim đồng hồ là cái yết hầu của thằng du côn sẽ bị móc ra khỏi cần cổ nó.
Tôi nghe tiếng,
– Em lạy anh, tha cho em!
Tôi lơi tay, nhổ nước miếng vào mặt anh võ sĩ và nói nhỏ,
– Cút về bên cái cầu tiêu của mày mà ngồi. Tên tao là Vương Mộng Long, tao đã từng là Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân. Sau khi xuống ga, mày có thể tìm tao bất cứ lúc nào.
Ông võ sĩ trưởng toa ôm trán đầy máu bò về hướng đầu toa, trả lại cái cửa tò vò cho mười anh tù ở cuối toa thay phiên nhau ló mũi ra để hít chút không khí mà sống.
Tàu đi ngang cầu Phú-Lương, Hải-Dương, tôi xin anh em cho tôi được ngồi lâu hơn một chút nơi cửa sổ để ngắm nhìn cây cầu tuổi thơ của tôi.
Tôi đã đi qua cây cầu này bằng đôi chân trần tuổi lên sáu, từ vùng “Tề” chạy giặc trở về thành phố Hải-Dương đổ nát điêu tàn.
Trong trí nhớ non nớt của tôi chỉ còn: cầu Phú-Lương đồng nghĩa với cầu Ðen. Cầu dài lắm, những cái vài khổng lồ sơn đen, lính gác cầu cũng là lính Marốc da đen.
Tôi qua cầu một ngày cuối năm 1948. Từ ấy tôi không còn thấy nó. Cho mãi tới đêm nay, tháng 7 năm 1976 tôi mới có dịp qua cầu lần nữa.
Hôm nay, cầu Phú-Lương có vẻ đen hơn ngày xưa, vì tôi qua đó vào lúc nửa đêm, trời tối như mực. Tôi nhìn cây cầu nơi chôn nhau cắt rốn từ cái cửa tò vò của một toa xe chở súc vật. Trong toa xe chở súc vật này là những sinh vật ưu tú của một dân tộc anh hùng.
Những sinh vật ưu tú ấy đang bị chuyển hóa thành súc vật. Những con vật này đang tranh sống. Chúng đang giết lẫn nhau để sống.
Toa xe lao nhanh. Ðộng cơ hơi nước phì phà “sình sịch! sình sịch!” Bánh sắt rít trên tà vẹt nghe “ken két! ken két!” rợn người. Những thanh sắt vài cầu loang loáng sát thành xe.
Rồi tôi không nhìn được gì thêm, nước mắt đã rơi, nước mắt bốc thành hơi, đôi mắt cay…
Trời mờ sáng thì tàu đi ngang Vĩnh-Phúc-Yên, những hố bom B52 còn như rất tươi trên ruộng lúa, dọc hai bên đường tàu. Những đoạn đường sắt ở đây cũng thấy như mới được đắp vá. Không khí trong xe ngột ngạt hơn.
Chúng tôi thay nhau cái lỗ tò vò với tốc độ mau hơn, quyền được thở giảm bớt. Người được thở tự đếm, “một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, hết!” rồi ngồi nhích sang một bên, nhường cho người kế tiếp.
Chúng tôi chia nhau từng giây không khí để sinh tồn.
Ðôi người đã khóc, đôi người vẫn cười. Giờ phút ấy có lẽ không ai còn nhớ đến vinh quang.
Nơi góc cuối của một toa xe chở súc vật, mười sĩ quan Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa chia sẻ nhục nhằn để sống.
Ba góc còn lại của toa xe không có cái trật tự tự nguyện này. Ðã có chuyện không hay.
Có ai đó nơi đầu toa bị ngộp thở. Tiếng người nói xôn xao,
– Làm hô hấp cho anh ấy đi!
Có tiếng la to,
– Anh bộ đội ơi! Có người xỉu! Anh bộ đội ơi!
Tàu vẫn chạy sình sịch, sình sịch… tiếng kêu cứu loãng trong không gian, không lời đáp lại.
Xế trưa hôm đó chúng tôi vào ga Yên-Bái. Ðang phiên thở hít của tôi, tôi nghe tiếng người gọi nhau,
– Tù tới! Tù tới!
Tôi thấy vài người dân vội vàng cúi lượm những viên đá xanh lót đường tà vẹt. Thấy không ổn, tôi thụt mũi vào trong toa.
Tôi nói với Thiếu tá Trần Ngọc Báu, Trưởng phòng 2 Tiểu khu Pleiku là người kế phiên hít thở,
– Ðừng ló mặt ra, dân nó ném đá đó!
Anh Báu không tin.
Vì tôi ngồi sát cửa với Báu, tôi nghe rõ tiếng reo,
– Thằng Mỹ mày ơi!
Rồi anh Báu ôm mặt. Mặt anh đầy máu. Một cục đá xanh đập vỡ mũi anh. Hình như hai cái răng cửa đã nhảy ra khỏi miệng anh.
Khuôn mặt Tây lai của anh biến thành cái mặt nạ máu me bầy nhầy.
Cái cửa được bít lại ngay bởi cái thùng đựng đạn trung liên chứa nước của ông già Mẫn.
Ðoàn xe lửa bị một trận mưa đá tới tấp tấn công.
Cho tới khi vài viên đá lạc vào toa xe của vệ binh thì tôi nghe tiếng súng bắn chỉ thiên.
Rồi tiếng đá chạm thành toa cũng ngưng.
Ðoàn xe ra khỏi ga chừng hai trăm mét thì ngừng bánh. Tù được lệnh xuống xe. Tôi là một trong những người đạp đất sớm nhứt.
Không đội ngũ, đoàn tù bị lùa lên xe Zin chở về nơi nào đó đã định. Hai bên đường, có những người dân mặc trang phục Dao, Tày, Thái, Mán, Thổ, Mường… ngơ ngác trông theo.
Tới một ngã ba, cứ một xe rẽ về trái, thì xe kế tiếp rẽ về phải. Thì ra, đoàn tù được chia làm đôi, một nửa đi về Ðông Bắc qua hồ Thác-Bà, nửa còn lại qua sông Hồng đi về hướng Tây. Chiếc xe chở tôi đi về hướng Ðông Bắc.
Anh bạn cùng Khóa 20 Võ Bị, cùng binh chủng Biệt Ðộng Quân là Ngô Văn Niếu cũng ngồi chung một xe với tôi.
Ðoàn 776 Cộng-Sản không đủ phương tiện đưa hết đoàn tù đi trong ngày. Chúng tôi được chia ra thành nhiều đợt lên ca nô vượt hồ.
Toán của tôi là toán chót, lên ca nô sau toán đầu hai ngày, hai đêm.
Hồ Thác-Bà rộng lắm, mỗi chiều cả chục cây số. Ca nô đưa chúng tôi đi ngược lên đầu nguồn sông Chảy, lướt chậm trên di tích của một thung lũng cổ.
Trong đám đọt cây khô giữa làn nước trắng, một gác chuông thánh giá đứng lẻ loi, phần dưới của nhà thờ chìm trong nước.
Nắng mai từ đỉnh núi hướng Ðông chiếu xuống mặt hồ, làm cho những đợt sóng lăn tăn lấp lánh như dát bạc…
Chúng tôi đến cuối Hồ Thác-Bà, hạ trại nơi không xa một xã người Tày. Xã đó tên là Cẩm-Nhân. Xã Cẩm-Nhân thuộc huyện Yên- Bình, Yên-Bái, tỉnh Hoàng- Liên- Sơn, cách biên giới Việt-Trung gần 50 km.
Bên bờ hồ, nơi một bãi lau sậy được đặt tên là Trại 3 Liên Trại 4, tôi và anh bạn Ngô Văn Niếu, Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân nằm cạnh nhau. Lán trưởng của tôi lại là anh Ðại úy tên Thu đã có lần tôi gặp cách đó hai ngày, trên chuyến xe lửa Hải-Phòng Yên-Bái.
Anh Thu nhìn tôi như kẻ lạ, như chưa từng thấy nhau. Nhìn cái băng trên trán anh tôi nghĩ anh thật là chóng quên.
Tối đầu tiên ở đây, anh bạn già Nguyễn Tuyên Thùy cho tôi biết một tin buồn: Có ông Thiếu tá dược sĩ tên là Duy vừa uống thuốc tự tử. Dược sĩ Duy được bó chiếu chôn bên cạnh hồ. Như vậy, trong Nam, gia đình anh Duy sẽ là những người đầu tiên biết chồng con họ đang ở đâu.
Anh Nguyễn Tuyên Thùy đến đây từ tháng trước, nên chứng kiến nhiều chuyện. Anh còn nói rằng,
– Nghe đâu, có vài ba người chết ngộp trên chuyến xe lửa từ Vinh ra Yên-Bái hồi tháng trước…
Anh nói chuyện người chết, người sống nghe nhẹ như không. Mà thực vậy, lúc này sinh mạng một người tù thua trận nhẹ như không…
Sáng hôm sau anh Thu tập họp đồng đội trước lán để truyền lại nội quy của trại cho những người mới tới. Anh phân tích rõ tội nào sẽ bị hình phạt gì. Những tội cải thiện linh tinh sẽ bị cảnh cáo, cúp phần ăn. Tội phát ngôn bừa bãi có thể bị cùm, bỏ đói…Tội vượt trại có thể bị xử bắn…vân vân. Anh cảnh cáo rằng nếu ai đụng vào chai dầu lửa treo ở đầu giường anh thì sẽ biết tay anh.
Tôi đi quanh trại, la cà trò chuyện cùng vài người quen. Những vị này, thời chiến tranh Ðông-Dương, 1945-1954 đã có dịp qua đây, như Trung tá Nguyễn Hữu Phú cựu Tham mưu trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân, Thiếu tá Bùi Ngọc Long Tiểu đoàn trưởng Ðịa Phương Quân Tiểu khu Quảng Ðức, Thiếu tá Nguyễn Tuyên Thùy ở Bộ Tổng Tham Mưu. Nhưng những đàn anh lớn tuổi này cứ duỗi ra mỗi khi tôi hỏi họ về địa thế, dân tình quanh khu Thác-Bà.
Các vị ấy cứ lắc đầu,
– Ðường xa diệu vợi lắm! Ðừng dại mà trốn trại! Mất mạng đó em ơi!
Tôi cứ nghe các anh ấy can ngăn như thế mỗi khi tôi tỏ ý muốn… đi.
Cuối cùng tôi gặp Ðặng Quốc Trụ, người bạn cùng khóa; anh ta đã từng là Tiểu đoàn trưởng của Trung đoàn 48 Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Nghe tôi ngỏ ý tìm bạn đồng hành để đi Lào, anh Ðặng Quốc Trụ hưởng ứng ngay…
Chúng tôi chưa biết rõ xã Cẩm-Nhân nằm ở nơi nào trên bản đồ Việt-Nam thì toán trốn trại đầu đã nhổ neo. Bốn đại úy gồm hai ông ở Tổng Thống Phủ và hai ông pilots trực thăng. Ði được ba ngày thì bốn Papillons bị bắt lại.
Tòa án giữa đồng được thiết lập. Không có lời buộc tội nào từ phía cai tù Cộng-Sản, mà chỉ có quân ta kết tội lẫn nhau. Nghiêm khắc nhất là một cải tạo viên, nguyên là phi công trực thăng, đã đề nghị xử bắn những người đi trốn để anh ta được yên tâm cải tạo (!)
Vài người nữa lên phát biểu ý kiến xin trại phạt nặng những kẻ vô kỷ luật để làm gương cho những kẻ khác.
Ban chỉ huy Cộng-Sản của trại cũng không ý kiến. Tòa giải tán.
Không ai dám hé răng bàn tán về những gì đã xảy ra.
Bốn anh trốn trại bị cùm trên đồi, gần ban chỉ huy trại.
Hai ngày sau, toán trốn trại thứ hai ra đi. Toán này gồm có hai người và được coi là có “kí lô”. Họ là Ðại úy Biệt Kích Trần Trung Ginh và Ðại úy Nhảy Dù Tôn Thất Ủy (Ủy là tùy viên của Tướng Lưỡng, Tư lệnh Sư Ðoàn Dù /Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa).
Sau khi phát giác có thêm một vụ trốn trại nữa, cán bộ Chính Trị Cộng-Sản của Trại 3 tập họp tất cả chúng tôi lại, răn đe,
– Các anh sẽ phải trả giá. Không ai thoát khỏi mạng lưới của nhân dân. Cứ trốn đi! Tôi thách các anh đấy!
Giữa đêm đó Vương Mộng Long và Ðặng Quốc Trụ khăn gói lên núi. Cái bật lửa của bác Biệt Ðộng Quân già Hoàng Ðình Mẫn nằm trong hành trang của tôi, và chai dầu lửa của anh đội trưởng tên Thu cũng nằm trong hành trang của tôi.
Vài ngày sau khi tôi và Trụ vượt trại, Trại 3 Liên Trại 4 bị giải tán, tù nhân được chia cho các Trại 5,7,9 kế bên.
Một đoàn tù từ bên hướng Tây sông Hồng được đưa về đây xây Trại 3 mới.
Cái đêm 8 tháng 8 năm 1976, tôi và Ðặng Quốc Trụ trốn trại lần đầu là một đêm mưa, khởi đầu trận bão Số 6 khốc liệt. Trận bão này gây nên mưa gió kéo dài hơn một tuần lễ.
Mười ngày sau chúng tôi bị mất hướng, luẩn quẩn trong rừng tre, rồi bị vây bắt lại.
Tên Việt-Cộng chấp cung tôi đã thẩm vấn tôi câu đầu,
– Có phải anh Thu cho anh chai dầu lửa để anh đi trốn hay không?
Tôi “thành khẩn” khai báo,
– Thưa cán bộ không ạ! Tôi ăn trộm nó khi anh đội trưởng còn ngủ.
Tên cán bộ ngạc nhiên lẩm bẩm,
– Lạ nhỉ? Vậy là anh Thu bị phạt oan, nhưng không hiểu tại sao anh ấy không tự biện bạch?
Từ đêm chui rào khỏi Trại 3, tôi không có dịp gặp lại anh Thu, không rõ đã có hậu quả gì đến cho anh sau khi tôi đi.
Tôi và Trụ được đưa về nhốt ở Trại 4 Liên Trại 4. Tại đây đã có 2 “đồng bọn” đang nằm cùm, đó là Trần Trung Ginh và Tôn Thất Ủy.
Cuối năm ấy tụi tôi được tha ra khỏi cùm để về đội lao động.
Nhiều dân trốn trại đã được quy tụ về đây trước đó. Trong số ấy có một băng Võ-Bị, gồm Trần Tấn Hòa (Nhảy Dù, k20 VB), Nguyễn Văn Nghiêm (Nhảy Dù, k20 VB), Trần Ðăng Khôi (Nhảy Dù, k16 VB), Hồ Văn Hòa (Biệt Ðộng Quân, k16 VB), Chu Trí Lệ (SÐ23, k16 VB), Trần Bá Huệ (Phủ Tổng Thống, k16 VB) Trần Ðình Bính (Phủ Tổng Thống, k14 VB).
Anh Ðặng Quốc Trụ được đưa về Ðội 10 dưới quyền đội trưởng là cựu Trung tá Lâm Kỳ Sáng.
Tôi về Ðội 11 dưới quyền cựu Ðại úy Ðặng kim Bảng.
Vừa chui vào lán, tôi đã nghe giọng Bắc Kỳ quen,
– Mừng đại ca, đại ca có nhận ra em không?
Dù lúc đó là buổi chiều mùa Ðông, trong lán tranh tối tranh sáng, tôi vẫn nhận ra ngay Toản Thuốc Lào.
– Quên sao được hả chú! Mới tháng trước đây, chúng mình chia tay nhau ở Sáu-Kho…
Ngay lúc ấy người đội trưởng bước vào, anh ta nói tôi sẽ được cử đi gánh gạo tiếp tế chiều nay cùng với đội ở bên Cẩm-Nhân.
Sau nhiều ngày nằm cùm, mới đi được hai cây số đường đồi tới chợ Cẩm-Nhân, chân tôi đã muốn rã ra rồi. Ðến Hợp-Tác Xã Nông-Nghiệp tôi gặp hai anh bạn cùng khóa là Nguyễn Xuân Hoè và Vũ Văn Minh; hai anh này ở trại khác, cũng đi gánh gạo chiều nay, mừng mừng, tủi tủi.
Bên kia đường, tôi thấy có người đưa tay vẫy. Tôi tìm trong óc xem có phải anh ta cùng khóa với mình không? Không! Hóa ra đó là anh Thu!
Thấy anh, tôi nhớ chuyến tàu hôm nào từ Hải-Phòng đi Yên-Bái.
Tôi nhớ ra chai dầu lửa anh cố tình treo trên lối ra vào của lán tù Trại 3. Ðêm vượt trại, chỉ cần giơ tay, tôi đã nẫng được chai dầu một cách nhẹ nhàng.
Tôi định đưa tay vẫy lại cái vẫy tay của anh Thu, thì đoàn tù gánh gạo ấy đã đi xa rồi.
Hôm đó, tiêu chuẩn chung của trại, trọng lượng cân đo, đúng 150 kg cho một chuyến hai người.
Toản cao hơn tôi, Toản đi sau, tôi đi trước.
Chúng tôi phải hò “Dô ta!” để lấy đà đứng lên.
Toản hò “Dô… ta!” rồi, nhưng Toản không đứng lên.
Toản cúi xuống lượm cái gì đó. Tôi hỏi,
– Sao không đi Toản?
Toản cười,
– Em có quà cho đại ca!
Anh ngước mắt lên, vui sướng đưa cho tôi một cục kẹo đường đen,
– Em lượm được cục kẹo, anh ăn cho hồi sức đã mất trong nhà cùm.
Tôi cảm động, nhận cục kẹo đường đen to bằng đầu ngón tay út.
Toản cười,
– Anh có nhớ hôm nay là Noel đó không?
Tôi cắn cục kẹo làm hai, đưa cho Toản một nửa,
-Merry Christmas!
Thấm thoắt đã mấy chục năm đi qua.
Tôi thấy buồn khi nhìn Noel trở lại.
Tôi thấy buồn khi nhớ ra, bây giờ tôi không còn sức để gánh chung cùng bạn một gánh gạo nặng 150 kg trên đoạn đường đồi dài 2 km nữa rồi!
Noel nào tôi cũng nhớ tới buổi chiều đi gánh gạo, nhớ cái vẫy tay của anh Thu, nhớ chai dầu lửa, nhớ cục kẹo đường đen ở Cẩm-Nhân, và nhớ Trần Gia Toản cùng những người bạn tù thuở ấy…
Vũ Mộng Long, VBĐL - K20

Friday, November 12, 2010

Ngày Trở Về



Phần XXI: Ngày Trở Về (1)
(Trong Hồi Ký NNTCC)
Tác Giả: Phạm G. Đại
 
Chúng tôi lục tục xuống xe, lích kích khiêng các ba lô túi xách cá nhân vào bên trong cái cổng có tên "Hàm Tân Z-30D" và được chỉ định tập trung vào một khu vực sâu phía bên trong trại .
Chín mươi người chiếm hẳn một góc sân trong tư thế nghỉ ngơi kẻ đứng người ngồi dưới tàn cây rợp bóng mát.
Trên khuôn mặt những người tù cuối cùng này có một điểm giống nhau là sự bình thản và nhẫn nại. 
Sự bình thản là kinh nghiệm nhiều năm ở tù đã tạo cho họ có được một đức tính biết âm thầm chịu đựng, biết chờ đợi và biết bình tĩnh trước mọi tình huống. 
Chính sự bình tâm trước mọi thử thách gian nguy và thái độ can trường chịu đựng một cách bền bỉ mọi hình phạt tàn khốc của kẻ thù phủ lên người họ, đã dần dần biến đổi môi trường sống của người tù thành thuận lợi hơn.
Hoặc giả vì cái nghiệp lực to lớn phủ chụp xuống toàn dân miền Nam khi nước đã mất vừa lui đi? Hoặc kẻ thù sau bao nhiêu năm trả thù đã hả hê và bây giờ họ chợt nhận thấy rằng mình đã xuống tay quá mạnh trên lưng kẻ thất trận cùng một mầu da nên dừng bớt lại?
Cộng thêm vào đó là lòng nhân đạo của người tù đã lấy ân báo oán, "lấy trí nhân mà thay cường bạo" khi cứu giúp thuốc men cho các khu gia binh và dân chúng quanh vùng, khi chia sẻ điếu thuốc, ấm trà, ly cà phê với các cán bộ, cán binh của trại giam đã làm cho họ phải suy nghĩ về tình người?
Tất cả những sự việc bề ngoài tuy trông rất bình thường đó lại là những yếu tố quan trọng cảm hóa kẻ thù, lấy được lòng dân, và xoay chiều cơn sóng dữ đã bao lần muốn nuốt sống mạng người tù; để đạt được điều ấy, hàng ngàn tù nhân đã ngã gục và nằm sâu trong lòng đất Mẹ.
Sau một thời gian dài suốt chín năm vừa qua, được gia đình đến thăm nom và tiếp tế đủ thứ từ ăn uống đến thuốc men, quần áo vật dụng, thì chúng tôi đã có một "tài sản" khá nhiều, khá bề bộn, dù là đã bỏ lại tại trại cũ Nam Hà nhiều thứ lỉnh kỉnh, nên chưa đến nỗi như đồ đạc trong truyện "Hoàng Trừu" ngày xưa
Đó là chưa kể đến những thứ mà các bạn về trước đã để lại như cây đàn ghi ta, bình ấm pha trà, các sách truyện quý kể cả các cuốn kinh về tôn giáo mà chúng tôi buộc phải mang theo vào Nam vì đó là những kỷ niệm của người đã rời trại giao cho người ở lại. 
Thêm vào đó, những người tù trước khi ra khỏi cổng trại tù vẫn còn phải chịu một lần kiểm soát gắt gao nữa và các sách báo kinh điển như vậy sẽ bị tịch thu ngay. Bởi thế kinh nghiệm của những người được về trước để lại cho người sau là càng gọn nhẹ càng tốt để tránh bị đám trực trại làm khó dễ hay hạnh họe trong lúc kiểm tra.
Trong những năm tháng tù đầy, có nhiều sự việc bất ngờ xẩy ra làm cho đời sống tù nhân thêm vất vả khốn đốn mà chuyển trại là một. Chuyển trại luôn là điều đáng e ngại nhất vì ngoài sự cực nhọc lao đao của thân xác là sự bất định của một tương lai không biết sẽ đi về đâu. Dầu sao đi nữa thì việc chuyển trại lần này coi như tạm xong.
Đây không phải lần đầu tiên chúng tôi chuyển trại và có thể cũng chưa chắc đã là lần cuối, cho nên cách tốt nhất là chấp nhận hiện tại rồi từ từ tính sau, bởi vậy chúng tôi mỗi người sẵn sàng bên cạnh hành trang của mình chờ đợi thủ tục nhập trại.
Thủ tục này như mọi lần thì bao gồm điểm danh từng người để bàn giao quân số cho trại mới, nhắc nhở về tuân thủ nội quy và kế nữa là mỗi người tù tự mở ba lô của mình ra cho trực trại khám xét từng vật dụng một trong đó; thứ nào được cho qua thì mới được đem vào, còn lại là tịch thu hết. 
Điều lạ lùng là lần đầu tiên thủ tục khám xét để nhập trại tại Hàm Tân đã được thông qua chứ họ không lục tung lên tất cả mọi thứ trong tư trang mỗi người như những lần nhập trại tại miền Bắc.
Có thể đây là một dấu hiệu tốt hay chăng? Cái gì thì cũng phải đợi một thời gian nữa xem sao vì họ đã lường gạt người tù quá nhiều lần rồi nên bây giờ chúng tôi thẩy đều thận trọng.
Trong khi chúng tôi vẫn đang đứng bên cạnh tư trang của mình thì cánh cổng trại chợt được đẩy rộng ra hơn vì có mấy tay cán bộ, cán binh đem các xâu chìa khóa vào và lần lượt mở còng hết cho các tù nhân.
Thái độ của họ tỏ ra thân thiện mà tôi tin rằng đó là do cấp trên đã ra lệnh cho họ đối xử như vậy, chứ không đầy hận thù như tại trại giam Long Thành mười hai năm trước khi còng tay chúng tôi để chuyển đến trại Thủ Đức trên đường ra Bắc lưu đầy .
Tôi lấy bàn tay trái xoa bóp cổ cánh tay phải một chút vì có chỗ hơi bị sưng lên vì cái còng số tám.
Ba ngày trời rồi cổ tay phải của tôi mới được thong dong rời khỏi cổ tay trái của anh Hai Hầu.
Ba ngày rồi trên tầu hỏa hay khi xuống xe lửa về trại Hàm Tân, anh Hai Hầu đi đâu thì tôi phải đi theo, ngược lại cũng vậy và cả tôi lẫn anh Hai Hầu đều không than phiền gì dù là cái còng có hơi nhỏ một chút.
Sau đó thì có vài tay có lẽ là cấp chỉ huy mà họ gọi là "Ban" đến để nói chuyện với nội dung tóm tắt là anh em chúng tôi được chuyển vào Nam để "tiếp tục cải tạo chờ ngày về đoàn tụ gia đình". 
"Ban" đề cập một số những giáo điều mà chúng tôi chẳng ai buồn nghe vì sau ba ngày di chuyển trên xe lửa thật mệt mỏi, ai cũng chỉ muốn cho xong mọi thủ tục để tìm chỗ nghỉ ngơi mà thôi.
Mười lăm phút nói chuyện để chào đón chín mươi người từ miền Bắc vào Nam, và không thấy ai có ý kiến gì nên mấy tay cán bộ này bảo nhóm trật tự hướng dẫn chúng tôi về buồng giam trong một khu vực riêng, biệt lập nằm bên trái sân trại.
Bấy giờ là buổi chiều, từ lúc mới vào trại, tôi vẫn nhìn ra phía ngoài cổng, nắng đang nhuộm vàng trên những ngọn lá Buông từ xa rồi tắt xuống dần thân cây và hắt những sợi vàng yếu ớt của một ngày sắp hết thành những vệt dài loang vào trong sân.
Lúc đó tuy là mùa Hạ nhưng khi ánh nắng dịu đi thì dưới đất không còn bốc lên cái nóng hừng hực của ngày Hè nữa,  mà hơi mát từ trong không khí tỏa xuống thật dễ chịu. Sau này tôi mới biết nơi này mát một phần là nhờ trại nằm gần bên một nhánh sông được tách ra thành các dòng suối nhỏ nước chảy róc rách ngày đêm xuyên qua khu rừng và chạy vòng quanh trại.
Trước kia, nơi đây là mật khu rừng Lá của VC mà họ vẫn thường chận các xe đò liên tỉnh để hăm dọa hành khách, bắt hành khách vào trong khu rừng này để tuyên truyền về "giải phóng" về "cách mạng" mất cả nửa ngày mới thả cho ra về. Nếu là quân nhân hay công chức thì bị bắt dẫn đi luôn.
Tôi có hai người cháu trai lúc còn bé đi theo chuyến xe đò liên tỉnh này, hai cháu cũng bị bắt vô đây nghe thuyết giảng mấy tiếng đồng hồ rồi mới được thả cho về lại Sàigòn vì các cháu chỉ là học sinh.
Lúc về tới nhà mấy ngày sau mà hai cháu vẫn còn hãi sợ . Hình ảnh những súng AK chĩa về phía hành khách đang ngồi bệt xuống đất trong rừng, và những chiếc khăn rằn quấn quanh cổ với những bộ mặt dữ tợn. Các cháu nói không quên được dù sau này đã trưởng thành.
Sau khi chiếm miền Nam thì cái mật khu này được biến thành trại tập trung "cải tạo" để giam giữ cả tù hình sự lẫn tù chính trị chế độ cũ. Thời gian những năm trước, trại này cũng nổi tiếng là khắc nghiệt, ngược đãi tù nhân với bàn tay sắt.
Số lượng tù nhân chết vì kiệt sức, vì vượt trại và bị bệnh tật không phải là ít.
Dòng đời vẫn trôi nhanh và tôi cũng không tưởng tượng ra được một ngày nào đó như hôm nay tôi lại có mặt trong khu rừng Lá này, không phải để nghe như các hành khách xe đò ngày xưa những tuyên truyền của VC - giống như những giáo điều bài bản rập khuôn và rỗng tuyếch mà tôi đã phải nghe mười mấy năm nay - mà chính tôi và những người tù đồng cảnh ngộ đang sống ngay bên trong trại giam của họ dựng lên tại nơi này.
Dầu sao thì tôi cũng đã vào đến trong Nam và điều thực tế là gần gia đình hơn và khí hậu miền Nam cũng ôn hòa hai mùa mưa nắng sẽ tốt và thích hợp cho sức khỏe chúng tôi nhiều hơn.
Một điều đáng mừng là gia đình cũng bớt vất vả ngược xuôi từ Nam ra Bắc trong những chuyến thăm nuôi đã như là huyền thoại vào tận rừng sâu núi thẳm để tiếp tế cho chúng tôi.
Một điểm nữa, không hiểu sao khi vào đến đây thì trong tôi niềm hy vọng lại chợt loé lên hình ảnh một ngày trở về sẽ không còn xa nữa- nghĩa là tôi sẽ có một ngày nào đó được trở lại thành phố Sàigòn, cái thành phố mà tôi đã phải u buồn trong câm nín, đau buồn trong tang tóc mà lặng lẽ bỏ nó ra đi cái ngày mà miền Nam vừa mất vào tay kẻ thù phương Bắc.
Miền Nam, hai tiếng đó như một cái gì thật là gần gũi và yêu thương mà sau mười hai năm lưu đầy xa vắng, nay tôi mới có dịp quay về để hít thở lại bầu không khí ấm áp này.
Tôi đang miên man suy nghĩ thì đã bước đến cửa buồng và quay về thực tại vì các tiếng động ồn ào, tiếng nói lao xao của các bạn. Chúng tôi thẩy các ba lô vật dụng cá nhân lên chỗ nằm rồi đi tìm nước tắm một cái đã, mọi việc khác tính sau. 
Buồng giam này cũng giống như hàng mấy chục cái buồng giam mà tôi đã trải qua, mỗi buồng cũng chứa đến sáu chục người. Tụi tôi ở làm ba buồng, hai buồng lớn và một căn nhỏ trên mấy bực tam cấp là dành cho các ông tướng.
Đây là lần đầu tiên từ mười ba năm qua mà chúng tôi, các dân sự hay cấp úy cấp tá, được ở chung cùng một khu, cùng chung một sân, không có bờ tường hay hàng rào kẽm gai ngăn cách với các ông tướng.
Tất cả tụi tôi, những người tù cuối cùng đều tập trung trong khu này trừ một số trong các anh đã ở Hàm Tân trước thì được phái ra ngoài như là tự giác để canh giữ các lán trại hay chăn nuôi gia súc và heo bò tăng gia cho trại.
Phía trước mặt khu vực chúng tôi ở là bờ tường, còn phía bên hông trái là hàng rào dây kẽm gai, chừa ra một cái cổng ra vào, thông ra sân lớn; và phía bên kia sân chạy dọc vào sâu bên trong là các khu dành cho tù hình sự.
Đặc điểm của trại này là có hai khu giam giữ một dành cho tù hình sự nữ và một cho nam.
Trong ba căn buồng giam dành cho chúng tôi, hai căn lớn là sàn xi măng bên dưới và có một tầng trên là sạp gỗ.
Buồng giam ở đây tương đối thoáng mát hơn các buồng giam ngoài Bắc vì có nhiều cửa sổ và trông sạch sẽ hơn nhiều.
Chỉ có căn dành cho các ông tướng thì ngăn ra làm mấy phòng nhỏ và mỗi anh đều có một chiếc giường cá nhân thoải mái để nằm chứ không phải nằm trên sàn.
Nơi dành cho các anh ở là một căn nhà nhỏ trông rất tươm tất, không có hình dáng một buồng giam như chúng tôi đang ở dưới này.
Mấy ông tướng vào những năm sau cùng thì rất là thân, có dịp liên lạc nói chuyện thường xuyên với chúng tôi, và tâm sự nhiều với nhau chứ không còn ngăn cách và biệt lập như những năm đầu khi mới ra Bắc.
Chúng tôi thường gọi mấy ông tướng bằng "anh" chứ không có còn gọi theo cấp bậc chức vụ cũ nữa.
Trong các ông tướng thì chúng tôi quen biết hết vì gập nhau hàng ngày, và thường có dịp thì cùng tham gia văn nghệ chung với anh Lê Minh Đảo, anh Lê Văn Thân.
Tình thân mỗi người mỗi khác nhau nhưng tôi lại thân và kính mến nhiều hơn với các anh Mạch Văn Trường, Trần Bá Di, và anh Tất, mà tôi coi như những người anh lớn và học hỏi được nhiều về cách sống của các anh.
Anh Đảo thì rất văn nghệ, mau mắn và có giọng cười thật là phóng khoáng dễ mến.
Anh vừa đàn vừa hát nhiều bản do anh sáng tác nhưng hay nhất và cảm động nhất vẫn là bài "Mẹ" mà anh làm ra để tặng người Mẹ hiền.
Anh Di thì dáng người cao lớn như anh Trường nhưng gầy hơn, miệng lúc nào cũng nở nụ cười thật tươi khi gập hay trò truyện với anh em chúng tôi. Điểm đặc biệt ở anh Di mà tôi nhận thấy nổi bật là anh lúc nào cũng giữ được tinh thần lạc quan và tinh thần chiến hữu bền chặt với anh em cấp dưới trong tù.
Anh Giai thì dáng hơi gù gù giống như vai hùm của võ tướng thời xưa và nhiều lúc tôi thấy anh hay cười mỉm chi như vừa tìm ra được một điều gì đắc ý vậy khi đang nói chuyện với các đàn em.
Anh Thân thì học được thuật châm cứu của ông thầy người Tầu khi còn ở trại Hà Tây ngoài Bắc.
Ông người Tầu này bị bắt khi đi hái thuốc tại biên giới Việt-Trung và bị khép vào tội gián điệp, và là một ông thầy đã từng cứu giúp nhiều anh em chúng tôi bằng phương pháp châm cứu thật độc đáo. 
Những người dân sống tại vùng biên giới Việt-Trung, nếu thiếu thận trọng như ông thầy Tầu này khi mải mê đi hái lá rừng làm thuốc thì rất dễ bị lạc qua địa phận bên kia, và sẽ bị bắt ngay về tội xâm nhập lãnh thổ, dò la hay gián điệp.
Ông là một người có tài châm cứu như thần mà tôi khâm phục vì chính mắt tôi đã mục kích những lần ông chữa đủ thứ bệnh cho các anh em tù nhân chính trị với hai cây kim bạc dài đến gần hai tấc đâm lút vào bụng hay vào sống lưng.
Ông luôn đem theo một họa đồ mà tôi rất thích ngắm nghía nhưng chẳng hiểu gì cả vì đầy những huyệt đạo trên cơ thể con người để chỉ dẫn thêm cho anh Thân.
Ngoài tài về châm cứu ra, anh Thân còn có biệt tài về thổi ống sáo.
Buổi chiều khi đi lao động về, sau bữa cơm đạm bạc, tôi thường ngồi trên chiếc ghế đá trong sân trước buồng để hưởng một chút thanh tịnh của một ngày sắp tàn. 
Những khoảng thời gian đó là lúc anh Thân bắt đầu lấy ống sáo ra và tiếng sáo của anh bay từ căn nhà trên bực tam cấp đó vi vu thoảng trong gió chiều xuống buồng chúng tôi làm tôi thấy tâm hồn mình lâng lâng một cảm giác mênh mang khó tả trong ánh chiều tà.
Tiếng sáo ấy chắc không thể đem ra so sánh với tiếng sáo của Trương Lương ngày xưa vì hai hoàn cảnh khác nhau nhưng để lại trong tôi những cảm xúc buồn vui lẫn lộn.
Lúc anh thổi, đầu anh hơi cúi xuống như đang để hết những tâm sự của mình vào trong tiếng sáo nên khi nghe dù là tôi nhìn thấy anh hay không nhìn thấy anh chăng nữa, trước mắt tôi vẫn hiện rõ một khuôn mặt hiền hậu xương xương nuớc da sạm nắng với nụ cười mím luôn trên môi và đôi mắt hiền lành nhưng luôn vương vấn một nỗi niềm u uẩn khó tả.
Có lúc tôi nghe tiếng sáo mà thấy lòng mình vui theo, nhưng nhiều khi tiếng sáo ấy thật buồn da diết như lời trần tình của một vị tướng, một chiến sĩ đã không làm tròn được bổn phận giữ nước của mình và đã sa vào trong tay giặc.
Đôi khi tôi chạy lên phòng để nói với anh rằng anh thổi sáo thật tuyệt vời dù là anh học chưa bao lâu, những lúc đó anh chỉ cười, nụ cười hiền hậu cám ơn, nụ cười mà không bao giờ xóa nhòa trong trí nhớ của tôi.
Có khi tôi lại không có can đảm nghe thêm nữa và bỏ vào trong buồng lên chỗ nằm tìm cuốn sách để đọc bởi vì tiếng sáo ấy lướt đi như làn gió nhẹ bay bay trong không trung của mấy buồng giam chúng tôi như đã khơi dậy trong tôi niềm đau sâu kín trong lòng về thân phận tù đầy của mình, về sự tan vỡ của gia đình, về niềm nhớ không nguôi thành phố mang tên Sàigòn, về tương lai có nhiều hứa hẹn hơn nhưng vẫn còn xa vời.
Anh Trường thì thân với tôi như anh em khi còn ngoài Bắc vì chúng tôi đều chung một thầy học đạo. Thầy Tâm đã nhận anh Trường và tôi làm đệ tử. Thỉnh thoảng tôi lại có dịp ăn bữa cơm chay với thầy,  anh Trường và cả ông Xoàn nữa do thầy nấu nướng và chế biến; trong khi ăn thầy thường kể những câu chuyện về đạo Phật trong đời sống dân gian ngày trước rất là hay và thật lạ lùng. 
Tôi cũng có một kỷ niệm đáng nhớ với anh Trường khi ngoài Bắc họ loan báo đổi tiền. Anh từ bên buồng giam của mấy ông tướng đưa cho tôi hai trăm đồng qua bờ tường để nhờ tôi đổi dùm. Lúc đó dù là ở Nam Hà cũng đã thoải mái hơn, nhưng các anh vẫn bị hạn chế nhiều trong bốn bức tường ít tiếp xúc với bên ngoài bằng tụi tôi, cho nên tiền bên các anh đều phải tuồn qua bên chúng tôi để tìm cách đổi cho kịp.
Chúng tôi trong buồng bèn gom tiền lại nhờ anh H. là tự giác đi ra ngoài trại qua đám cán bộ nhờ đổi dùm - nhưng không may hôm đó họ khám tất cả mọi người ra vào trại kể cả tự giác và trật tự nên anh H. bị tịch thu hết số tiền mang ra.
Tối hôm đó tôi nằm mơ thấy mình mặc một bộ quần áo rất sạch sẽ, áo sơ mi và quần tây mầu trắng thì đột nhiên có một con gà từ buồng bên cạnh chạy qua và nhẩy vào người tôi rồi loang đầy máu đỏ lên chiếc quần trắng đó. Tôi vội hất con gà ra nhìn cái quần bị vấy máu thì giật mình tỉnh dậy. Có thể là một điềm xấu.
Sáng dậy, tôi bèn đem giấc mơ ra hỏi thầy Tâm thì thầy không nói gì chỉ bảo tôi ráng niệm Phật và thầy cũng sẽ cầu nguyện cho.
Chiều hôm đó trực trại kêu mười mấy người trong đó có tôi qua khu bên Văn Hóa "làm việc". Chúng tôi được biết là phải viết kiểm điểm vì lưu trữ tiền "ngân" vi phạm nội quy của trại. Lúc đó tôi mới hiểu là giấc mơ đã báo cho điềm không hay. Tôi viết và nhận số tiền hai trăm đồng là của tôi vì không muốn họ làm khó dễ anh Trường vì sao anh cũng là cấp tướng còn tôi dầu sao chỉ là phó thường dân.
Họ thu hết các bài kiểm điểm đem ra khỏi trại, tịch thu hết tất cả số tiền lần đó nhưng rất may là sau đó vụ này từ từ êm đi. Tiền đi thay cho các tai ương khác như ông bà thường nói chăng.
Tôi nhắn với anh Trường là số tiền đã bị tịch thu rồi và tôi nhận số tiền hai trăm ấy là của tôi và xin lỗi anh đã không làm tròn lời hứa nhưng anh rất vui vẻ và không trách cứ gì tôi cả.
Anh Trường cũng như anh Hai Hầu đều lớn tuổi hơn tôi nhiều và coi tôi như người em trai. Anh Trường được thả ra sau hơn mười sáu năm tù, khi anh ra về tôi có ra gập anh nói chuyện chốc lát và anh siết chặt tay tôi cũng vẫn với nụ cười tươi và tiếng nói rổn rảng. Anh vẫy tay chào mọi người còn lại và nói mong sẽ sớm gập lại hết các anh em ở Sàigòn một ngày không xa.
Tình chiến hữu ngày xưa quyện vào tình những người tù đồng cảnh ngộ hôm nay nhất là cùng ở tù với nhau trong giai đoạn cuối này đã trở thành một thứ tình cảm gắn bó không khác gì anh em một nhà.
Trong những lần trại có đợt thả như vậy, và mỗi khi nhìn thấy các người tù được ra về thì tôi lại mừng cho các bạn mình . Tôi mường tượng ra cảnh họ tối nay sẽ đoàn tụ quây quần bên bữa cơm gia đình với nụ cười trong nước mắt, nghĩ về mình còn ở lại thì tôi không khỏi buồn và thấy thật nhiều trống vắng trong tâm hồn vì mất một số bạn hữu không biết bao giờ gập lại? Buồng giam càng ngày lại càng buồn tẻ hơn vì người càng lúc càng thưa dần.
Dầu sao mười mấy năm trong tù cũng tôi luyện cho tôi quen dần đi với những đợt thả không có tên mình.
Lúc đầu khi họ kêu ra sân ngồi tập hợp lại để nghe đọc tên, tôi rất hăng hái đi ra với hy vọng có tên mình trong danh sách được thả, nhưng bao lần tên tôi như bị lãng quên, nên riết rồi tôi cũng chán và mỗi lần như vậy lại cáo ốm nằm trong buồng vì biết chẳng bao giờ có tên mình.
Vả lại nghe thấy tên các bạn thân thì bên cạnh niềm vui cho bạn là nỗi chán chường của người còn ở lại.
Nỗi chán chường này bắt nguồn từ tình bạn như thường ăn cơm chung, cùng chia sẻ những nỗi mệt nhọc trong các giờ lao động ngoài nắng mưa hay những buổi chiều dạo bước trên sân tâm sự với nhau, thì đột nhiên họ có tên ra về để lại tôi ngồi ăn một mình, không ai tâm sự, là một trống vắng một nỗi buồn da diết trong tâm hồn khó bù lấp ngay được.
Thời gian vẫn lặng lẽ trôi qua, thấm thoát mà chúng tôi đã vào Nam được một năm. Khi vào đây tôi mới biết là trong Nam cũng còn giam giữ chưa thả hết tù chính trị chế độ cũ.
Chín mươi người chúng tôi từ trại Ba Sao Nam Hà là những người tù cuối cùng trên toàn đất Bắc chuyển trại vào Nam tháng Năm năm một chín tám tám.
Trong Nam lúc ấy, trại Hàm Tân còn khoảng hơn sáu mươi người nữa là những người tù cuối cùng còn lại ở miền Nam hợp lại với nhau thành khoảng một trăm năm mươi tư người tù chính trị là những người tù cuối cùng trên toàn quốc đang bước qua năm thứ mười bốn.
Một trăm năm mươi tư người tù đó là số sau cùng còn lại của hàng triệu người đã bước chân vô các trại giam tập trung kể từ sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản phương Bắc.
Khi toán tù từ Bắc nhập vào toán trong Nam, có những người bạn cùng đơn vị ngày xưa lưu lạc giang hồ bao nhiêu năm trời và qua bao nhiêu là trại giam từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam, bỗng chốc hội ngộ nhau tại Hàm Tân Z-30D mới biết là bạn mình vẫn còn ở lại đây, giống như bài hát:
-"Anh ở đây bạn bè anh cũng ở đây, áo rách xác xơ thân gầy cùng nhau chung kiếp lưu đầy...chiều chiều ra trông đàn én kiếm mồi thấp thoáng bay qua. Toa liền toa tầu đi trong bóng hoàng hôn, tiếp nối những dư âm buồn thành thơ ray rứt tâm hồn..."
Chúng tôi gập lại nhau mừng rỡ một phần vì những giai đoạn cam go nhất trong cuộc đời tù tội hầu như đã qua và trong cái không gian dù còn nhiều tù túng và hạn chế này nhưng niềm hy vọng đã lóe sáng lên cho một ngày trở về.
Tuy nhiên, không ai biết rằng và chúng tôi cũng không ai ngờ rằng phải chờ đến bốn năm sau nữa thì họ mới thả hết hơn một trăm năm mươi người tù này làm nhiều đợt nhỏ lớn khác nhau.
Mặt khác ở bên ngoài xã hội, năm một chín bẩy chín thì Mẹ và hai em út của tôi được ra đi đoàn tụ qua Mỹ theo chương trình ODP mà anh thứ Ba tôi đã bảo lãnh từ 11 năm trước. Chắc chỉ có trong các nước Cộng Sản thì việc xin ra đi nước ngoài cho người dân mới bị làm khó dễ và thủ tục lâu la đến 11 năm như vậy. Năm sau, một chín chín mươi thì vợ chồng Tuyết em gái kế tôi là cô Năm ra đi cũng theo chương trình này qua California.
Năm một chín chín mốt thì đến lượt gia đình Khánh, em gái tôi là cô Sáu rời khỏi VN qua Mỹ là chuyến chót.
Kể cả vợ chồng Thu, em gái tôi cô Bẩy đi vượt biên mười mấy năm trước nữa thì gia đình anh thứ Hai tôi là độc nhất còn ở lại Sàigòn.
Những người trụ cột cho việc thăm nuôi tôi trong tù bao nhiêu năm qua đã lần lượt rời quê hương qua Thái Lan trên đường qua Mỹ định cư. Lúc đó chỉ còn hai con tôi đảm nhận vai trò đi thăm nuôi tôi trên những chuyến xe đò của ông Tô mà thôi.
Cùng lúc đó thì bên ngoài kể từ đầu của thập niên chín mươi niềm hy vọng, nỗi mong đợi bấy lâu là chương trình H.O đã bùng lên thành sự thật một cách rạng rỡ  (là chương trình Nhân Đạo: Humanitarina Operation của chính phủ Hoa Kỳ dành cho các gia đình có thân nhân đã ở trong trại giam tập trung từ ba năm trở lên được đi định cư tại Hoa Kỳ.)
Một mặt thì trại vẫn thả nhỏ giọt những người tù, một mặt thì bên ngoài các chương trình H.O 1, H.O 2, H.O 3... vẫn tiến hành đều đặn, cứ vài tháng lại có một đợt H.O ra đi.
Trong khi đó thì chúng tôi những người tù cuối cùng vẫn còn bị giam giữ trong bốn bức tường của Z-30D Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải.
Tâm trạng vui buồn lẫn lộn của những người còn lại ít ỏi đó thật là khó mà diễn tả được. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại nhận được tin từ thăm nuôi vào cho biết những gia đình H.O nào đã lên máy bay qua Thái Lan, gia đình nào đang chờ đợi chuyến bay.
Một trong những niềm vui và an ủi là một số các bạn tù được ra về những năm trước nghe chúng tôi đã về Nam nên vào thăm mua quà và cả két bia nữa, nhân dịp cũng để từ giã chúng tôi luôn vì các anh đã có tên trong danh sách H.O sắp lên máy bay qua Mỹ định cư cùng gia đình.
Khi ra khu thăm nuôi gập lại nhau thì không nén được niềm xúc động.
Cuộc đời nhiều lúc cũng khó mà lý giải được vì các người bạn đứng đây lúc trước đều là tù nhân như nhau nhưng bây giờ chúng tôi còn trong trại giam mà các bạn đó lại sắp bước vào cuộc đời tươi sáng trên phần đất Tự Do.
Chỉ có thể tin rằng con người ta mỗi người đều có số mạng khác nhau, hay khi mà nghiệp lực đã hết thì thong dong ra về, người nghiệp lực chưa hết thì còn ở lại mà thôi.
Trong hơn ba năm kể từ một chín tám tám, trại chỉ thả số lẻ là năm mươi tư người làm nhiều lần khác nhau, trong đó có nhà văn quân đội PNN ra trại năm chín mươi, cho nên đến đầu năm một chín chín hai thì tổng số còn lại là một trăm người.
Số một trăm người này lần lượt ra khỏi trại làm ba đợt: tháng Giêng, tháng Hai và cuối tháng Tư đầu tháng Năm.
Đợt thứ nhất gồm 42 người trong đó có các anh Lãm, Tỷ, Diễm, Chương "Tây Ninh", Tống, Điền, Nghi, v.v.
Nhắc đến anh Tỷ thuộc Phủ Đặc Ủy thì mới thấy con người ta sống chết quả là có số mạng, cái chết nhiều khi đến thật dễ dàng nhưng có lúc gập bao tai nạn bệnh tật mà vẫn thoát lưỡi hái của Thần Chết thật kỳ diệu.
Khi còn ngoài Bắc, tôi nằm cùng sàn trên với anh Tỷ, một buổi sáng thức dậy, anh đứng lên để tháo cái dây cột mùng ra khỏi sợi dây kẽm thì có lẽ chóng mặt hay sao đó anh mất thăng bằng nên té từ trên độ cao hơn hai thước, đầu cắm xuống đất.
Bên dưới là các thùng gánh nước bằng sắt, đầu anh đập vào đúng một thùng sắt tây đầy nước, nhưng rất may là tối hôm trước không hiểu anh nào đã đậy thùng nước với cái chậu thau nhôm chia cơm; nhờ có chậu thau đó mà anh đã không bị bể đầu. Cái chậu thau đó như một cái đệm đã cứu mạng anh.
Mọi người đều hỏi anh cần đi bệnh xá không thì anh nói là không sao chỉ choáng váng thôi và một hai ngày sau thì thấy anh bình thường trở lại không có biến chứng gì nguy hiểm.
Khi mới vào Hàm Tân khoảng hai năm thì một buổi tối anh Tỷ đau lăn lộn tại chỗ nằm, chúng tôi đứng chung quanh cũng bối rối chưa biết làm sao và không hiểu nguyên nhân gì mà anh đau dữ dội như vậy, may có anh Nhơn nhanh trí chạy qua bên bệnh xá mời một bác sĩ (anh là BS cũ tại bệnh viện Sàigòn ngày trước và bị bắt sau này vì vụ án "âm mưu lật đổ chính quyền"). Qua chẩn đoán vị BS này nghi là sưng ruột dư nên kêu cấp cứu.
Vì thiếu phương tiện hay người tù không được ưu tiên hay sao nên anh Tỷ chỉ được một tay cán bộ chở bằng xe gắn máy từ đó trên con đường sỏi rất là xóc cả cây số mới ra tới ngoài lộ trên đường đến bệnh viện.
Dù ngồi đằng sau xe gắn máy xóc cả tiếng đồng hồ như vậy nhưng rất may là vẫn còn đến bệnh viện kịp, vì nếu để lâu cái ruột dư mà bị bể ra thì theo anh BS - có thể gây tử vong.
Khi mổ thì phòng mổ mở cửa sổ và bụi bậm tha hồ bay vào phòng chẳng có phương thức khử trùng gì cả. Sau khi ca mổ xong thì nhà thương họ bôi đầy mật ong lên vết mổ nói là để sát trùng vì không có thuốc. Vậy mà anh vẫn sống ngon lành.
Đợt thả lớn thứ nhì là sau Tết vào ngày 20 tháng Hai với 38 người trong đó có PKNiệm, TQ Lựu, Tấn "bầu", HĐ Sung hay "Sung Bụi", đại tá PV Phô, LM Sơn, LT Lạt, BQ Nghĩa (cũng là bạn cờ tướng của tôi đã từng đấu với nhau bất phân thắng bại trong mấy năm ở trại này).
Số tám chục người ra khỏi trại vào hai đợt đầu năm một chín chín hai này là những người tù đã bước sang năm thứ mười bẩy.
Vào cuối tháng Hai sau hai đợt thả ấy thì tổng số những người tù trong trại giam Z-30D còn lại đúng hai mươi người, trong đó có tôi.
Danh sách hai mươi người cuối cùng còn sót lại bao gồm bốn ông tướng là Lê Minh Đảo, Lê Văn Thân, Đỗ Kế Giai và Trần Bá Di, mười lăm anh em nữa là hai anh Bửu Uy và trung úy Thắng trong Phủ Đặc ủy; ba cảnh sát là hai trung tá NH Hải, TV Xoàn, thiếu tá PT Ngưu; người về từ Việt Nam Thương Tín Hoàng Hiểu; thiếu úy PRU trinh sát tỉnh Hòa "điếc"; anh Miên "hồi chánh viên"; ANQĐ là đại tá Sảo, Hãn, trung tá Hiếu, Kiên, thiếu tá Mẫn; lực lượng đặc biệt là thiếu tá LH Minh, nhà văn Thảo Trường TD Hinh và tôi thuộc tòa đại sứ HK. 
Hai mươi người cuối này được "biên chế" vào hết đội 23 còn đội 20 trước kia được "giải thể".

Từ đó thì tôi đi lao động chung với các vị tướng và đại tá đàn anh trong lúc sinh hoạt của đội 23 hoàn toàn khác hẳn vì ra lao động chỉ còn lấy lệ mà thôi. Chúng tôi đi ra ngoài để tăng gia về rau xanh, trồng bí mướp, khổ qua cho bữa ăn có thêm dinh dưỡng chứ không còn phải lao động nữa.
Có nhiều anh thì đi câu cá hay nấu nướng, viết thư cho gia đình. Tóm lại là chế độ cưỡng bách lao động từ mười mấy năm qua dành cho chúng tôi nay đã cáo chung và hầu như họ thả lỏng cho những người còn sót lại của đội 23 này được thoải mái như thể chỉ còn sống trong trại để chờ ngày về mà thôi.
Thời gian này quả thật so với quãng đời lưu đầy ngày trước thì khác nhau thật xa, tôi không còn cảm thấy không khí tù tội chung quanh mình, không còn cảm thấy những cảm giác nghẹt thở của trại giam, tuy nhiên tôi không khỏi băn khoăn vì chúng tôi còn lại quá ít, hai mươi người sống bên cạnh hàng ngàn tù hình sự đủ loại tội trạng. 
Hàng rào kẽm gai được đẩy lùi thêm vào trong và khu vực của chúng tôi thu hẹp lại vào một góc nhỏ gồm căn nhà dành cho bốn ông tướng và mười mấy anh em chúng tôi sống trong nhà kho sửa laị thành phòng ngủ; và lần đầu tiên trong cuộc đời tù tội, chúng tôi mỗi người có một chiếc giường cá nhân đàng hoàng giống như bốn đàn anh trên căn nhà kia.
Nghĩ lại tôi mới thấy các giấc chiêm bao khi xưa còn lưu đầy ngoài Bắc thật linh ứng. Như giấc mộng chiêm bao của thầy tôi ngoài Bắc khi còn ở trại Nam Hà, thầy đã thấy tôi là một trong những con cá cuối cùng còn quẫy đuôi nằm thoi thóp trên lòng sông mà nước đã trơ cạn đến đáy.
Và hệt như giấc mộng, cánh cửa tù đã đóng lại sau lưng chúng tôi hai mươi người tù cuối cùng vào cuối tháng Tư và đầu tháng Năm năm một chín chín hai. Như giấc mộng rất linh hiển tôi đã nằm mơ khi mới ra Bắc - thấy một vị Thánh Mẫu hiền hậu và uy nghiêm ngồi trên ngai và Ngài đã phán cho tôi ngay từ lúc đầu rằng: "Cộng Sản nó không bao giờ muốn thả anh đâu, nhưng rồi cuối cùng họ cũng phải thả".
Điều mà Ngài phán đã ứng nghiệm với những người tù cuối cùng - dù đã phải trải qua bao gian truân, cay đắng và tủi nhục suốt mười bẩy năm trời dài đằng đẵng đó nhưng họ vẫn luôn luôn nuôi dưỡng một niềm hy vọng hòa lẫn niềm vui tự hào rằng mình đã sống sót và có mặt trong ngày trở về.
(Còn Nữa)
Phạm G. Đại